Bút ký của Tạ Bá Hương

Cận tết, anh Thành điện cho tôi, bảo:
- Chú sắp xếp thời gian lên anh ăn tất niên, tiện thể anh kết thúc vụ cá.
Anh Thành là con út bác Hạt, chị gái bố tôi. Hồi đoàn người khai hoang lên bến Hang Mang lập nên quê mới, bác Hạt cũng có mặt trong số đó. Chồng bác Hạt là bác Cận. Bác Cận hay rượu, nhưng có sức khỏe bằng mấy trai đinh trong làng cộng lại. Nhà vốn đông con, nên thường túng bấn quanh năm. Cái hồi còn quy mô Hợp tác xã, bác Hạt tham gia tổ cấy lúa, còn bác Cận đảm nhận công việc cày bừa mỗi khi thời vụ đến. Người ta giao cho bác một con trâu đực, giống trâu mộng, loại trâu này mới đủ sức theo bác vỡ đất trên những cánh đồng Lụt, đồng San. Mỗi sáng, mình bác và con trâu mộng cày xới ba sào ruộng ngon ơ. Rồi đến mùa ngô lúa ngả vàng, bắt đầu vào độ chín, bác Cận còn được tín nhiệm tham gia tổ quản lý đồng. Tối nào cũng vậy, cơm nước xong, bác đeo cái đèn pin ló trên đầu, thủng thẳng đi thẳng ra cái lán nằm trơ vơ giữa đồng không.
Người làng bảo:
- Lão Cận mà coi đồng thì ma còn chả dám lấy, nói gì người.
Bác Cận hiền khô, nhưng nom tướng bác dữ tợn. Mỗi khi bác cất lời, giọng bác như sấm nổ, thế nên người làng chả ai dại gì động vào bác cho phiền phức. Ngay cả đám trộm cắp trong làng, chúng có thể quậy phá ở đâu đó, nhưng về làng thì lại ngoan như cún con. Bao năm nay, trên các cánh đồng Lụt, đồng San, Mắt Rồng ở Khánh An, chưa bao giờ xảy ra hiện tượng mất cắp. Những người trong tổ coi đồng do Hợp tác xã cắt cử ra, họ đều yên tâm khi có bác Cận hỗ trợ. Bọn trộm cắp không có cơ hội để làm việc xấu. Chúng sợ bác Cận. Ngay bọn trẻ con chúng tôi hồi ấy, mỗi lần gặp bác, tất cả chả ai bảo ai, đều đứng dạt vào mép đường, mặt cắt không còn giọt máu. Đứa nào nhanh chân thì chạy vụt đi, đầu không dám ngoái lại. Thấy vậy, bác đập đập cái chân mình xuống đất, hù dọa:
- Tiên nhân bố chúng mày, tao đã làm gì đâu mà sợ.
Những đứa không kịp chạy, co cụm lại một chỗ, mắt không dám nhìn thẳng vào bác. Có đứa giả vờ lơ đãng nhìn xuống đất, ra điều chăm chú lắm. Chúng giả vờ thế, trong khi hai ống chân rung lên bần bật. Có cái gì đó rất đáng sợ đang lớn lên trong ý nghĩ của bọn chúng, mặc dù người ta chưa bao giờ thấy bác làm hại đến ai. Bác vốn quý trẻ con, nhưng cái tướng mặt của bác lại khiến bọn trẻ đều khiếp hãi, mỗi khi giáp mặt. Hôm nay cũng vậy. Bọn trẻ đứng nép vào mép đường, đầy vẻ lo lắng. Nhưng lúc bác đến gần, bác nở nụ cười thiện cảm, rồi kéo cả đám trẻ vào nhà. Đám trẻ miễn cưỡng đi theo.
Bác Cận hỏi:
- Các cháu có ăn ổi không?
Bọn trẻ đứng im lặng, có đứa khẽ khàng thưa:
- Cháu… cháu… cháu…
- Mạnh dạn lên, có ai làm gì đâu nào.
Nhà bác Cận có cái khoảng vườn rộng, nhiều cây ăn quả được trồng tại đó. Mùa này đang là mùa ổi chín. Hương ổi theo gió tỏa ra không gian một mùi thơm nức mũi. Những cành ổi khẳng khiu treo đầy quả chín và quả xanh. Bác Cận bố trí cho bọn trẻ ngồi trên hiên nhà, tự mình đi hái ổi, rồi mang vào chia cho mỗi đứa một túm. Bọn trẻ đón lấy túm ổi, xin phép ra về. Lúc từ hiên cửa nhà bác Cận đi ra, chúng bước những bước chân khoan thai. Tuy nhiên, chỉ khi đi khuất sau hàng rào cúc tần, chả đứa nào bảo đứa nào, tất cả đều co cẳng chạy một mạch. Chạy như ma đuổi. Một số quả ổi tung ra, rơi xuống mặt đường lăn lông lốc, cũng không có đứa nào đủ dũng khí quay lại nhặt, dẫu tiếc hùi hụi. Cho đến tận sau này, khi lớn lên, tôi cũng không thể nào cắt nghĩa nổi là vì sao bọn trẻ con chúng tôi hồi đó lại sợ bác Cận đến thế. Ngày bác Cận còn sống, nhà bác lúc nào cũng đông khách đến chơi. Căn nhà mái gianh của bác nằm ở vị trí giữa làng, có con đường liên thôn chạy ngang qua chái nhà. Người đi xuôi, người đi ngược đều rẽ vào chỗ bác uống ngụm trà xanh, hút điếu thuốc lào, ngồi mặn chuyện một lát, rồi mới cất bước đi tiếp.
Bác Hạt tôi vốn là người khéo léo, lại ăn ở có trước có sau nên được người làng Khánh An quý mến. Có chân trong tổ gieo cấy, bác Hạt suốt ngày tất bật với công việc đồng áng. Mùa đổ đồng thì theo bà con xã viên đi gieo cấy. Mùa thu hoạch thì cầm theo đôi quang gánh, cái liềm hoen gỉ đi thu từng gánh lúa về đổ đầy trên sân kho hợp tác. Rồi mùa tra đỗ tương, mùa trồng ngô. Vẫn cái dáng người khắc khổ ấy cặm cụi trên cánh đồng làng. Nghĩa là, quanh năm suốt tháng, nghề làm nông nó cứ như sợi dây, níu buộc cuộc đời bác vào đó. Lam lũ thế cũng chả đủ ăn bao giờ. Hồi ấy, cung cách quản lý theo quy mô Hợp tác xã bó hẹp người nông dân chỉ biết đi làm để lấy công điểm, còn những cái khác đã có Nhà nước lo. Do vậy, ý thức tự giác của con người không được phát huy một cách triệt để, họ bỗng trở thành những con người thụ động, thậm chí là đối phó. Ngay như nhà bác Cận tôi, vườn tược rộng rãi, nhưng chỉ để cỏ mọc, chỉ vài cây ăn trái được trồng xuống, gọi là có hoa quả cho trẻ con ăn, chả ai nghĩ đến thương mại. Nhưng cũng may, bác Cận tôi lại có tính chịu khó. Ngoài việc làng, việc xã, cứ tối đến bác lại mang ra ghềnh Hang Mang vài cái đó, cái lờ, cái cụp bắt cá. Tối ngâm đó, ngâm lờ, ngâm cụp xuống sông, tờ mờ sớm hôm sau ra thu về. Nhiều hôm may mắn bắt được cá, cả nhà được một bữa tươi, cải thiện suất ăn trong gia đình. Hôm nào cá không vào đó, vào cụp thì đành chấp nhận ra về tay không.
Cuộc sống sau này cũng dần có sự biến chuyển tích cực. Khoán mười ra đời, ruộng đất chia đều cho các xã viên trong làng, hình thành nên một cách làm ăn mới, chủ động hơn và năng động hơn. Những người nông dân bám đất, bám ruộng đều phải chịu trách nhiệm với thành quả lao động của mình, không còn cảnh trông chờ, ỷ lại vào tập thể. Rồi, cơ chế thị trường bắt đầu manh nha hình thành, một bộ phận nông dân chuyển dần sang kinh doanh, buôn bán theo hộ cá thể. Làng Khánh An từ đó bắt đầu khấm khá dần lên. Nhà bác Cận cũng khấm khá theo. Các anh chị nhà bác lớn lên, đều tham gia nghĩa vụ quân sự, rồi lấy vợ, lấy chồng, người theo nghiệp làm nông, người chuyển nghề buôn bán, chạy chợ. Chỉ có anh Lân là mất sớm. Anh Lân là con trai thứ ba của bác Cận và bác Hạt. Anh mất trong một trận đánh ác liệt trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Thời điểm đó, đất nước đang trong giai đoạn chiến tranh, cũng giống như nhiều thanh niên khác ở làng Khánh An, anh Lân viết đơn tình nguyện đi biên giới. Sau này mẹ tôi kể lại, trước khi ra trận, anh Lân còn đến nhà chia tay ông nội tôi, mẹ tôi, gọi là cho phải phép, rồi mới lên đường. Buổi chiều ấy, anh vời tôi đến ngồi vào lòng anh.
Anh Lân ôm tôi vào lòng, nói:
- Anh ngồi với em lần này, không biết có còn lần khác nữa không.
Ông nội và mẹ tôi gắt:
- Anh chỉ được cái gở mồm.
Lần ấy anh Lân đi và không bao giờ trở về. Xác anh bị pháo địch vò nát trên một điểm chốt ác liệt ở Hà Giang. Xác anh được đồng đội chôn cất tạm thời trên vùng đất khét lẹt mùi thuốc súng. Mãi sau này, gia đình bác Cận mới đưa được anh về nằm trên cánh đồng làng, nơi con sông Lô rì rầm nổi sóng.
Anh Lân mất, mang lại nỗi đau như một vết thương lòng trong nỗi thương nhớ của bác Hạt và bác Cận. Căn nhà bỗng trở nên hoang lạnh, u ám. Các anh chị đều ở riêng vãn, nhà chỉ còn anh Thành, con út bác Cận là ở lại trên chính ngôi nhà cũ để cai quản đất đai, hương hỏa ông bà. Những mảnh đất trước kia chỉ quen trồng lúa, trồng ngô, đậu tương thì giờ được vợ chồng anh đưa một số loại cây trồng có giá trị cao vào cánh tác, thu nhập khá hơn so với cách làm truyền thống. Đặc biệt, mấy năm trở lại đây, tận dụng nguồn nước sông Lô, anh Thành tôi còn thuê thợ về đóng chuồng nuôi cá lồng trên sông. Một nghề mới được hình thành, mang lại kế sinh nhai cho gia đình anh và một số hộ nông dân ở làng Khánh An. Do vậy mới có chuyện anh nhắn tôi về quê liên hoan dịp tết, gọi là kết thúc vụ cá.
Quả thật, mấy năm nay vợ chồng anh Thành dành dụm ít tiền để cất dựng mấy lồng cá. Thấy bảo, nghề này cũng kiếm được khá tiền, chỉ tội mất thời gian trông coi. Ban ngày tranh thủ việc đồng áng, tối cơm nước xong, hai vợ chồng lại lọ mọ dắt díu nhau ra ngủ trong cái chòi bé tin hin trên những chiếc lồng bè. Đêm xuống, cả khúc sông vắng vẻ, chỉ nghe tiếng sóng dập dềnh đập vào nan sắt của những chiếc lồng đặt chìm sâu dưới nước. Mùa cạn, dòng sông Lô chảy chậm, từng con sóng yếu ớt, không đủ sức làm chao đảo căn chòi nhỏ. Đêm xạc xào, yên ả đi qua tháng năm. Tuy nhiên, khi mùa lũ về, phù sa ngầu đỏ, dòng nước cuộn lên va đập, khiến căn chòi nhỏ nằm bên mép sông, chỗ đầu ghềnh Hang Mang như muốn bị hất tung. Thiên nhiên dữ dằn, thất thường, những người chăn nuôi cá lồng bên khúc sông Lô như anh Thành và hàng chục hộ nông dân khác ở làng Khánh An cũng phải cứng cỏi để đương đầu với nó. Những mùa cá lặng lẽ đi qua, có cả buồn vui, tiếng cười và nước mắt. Nghề nào cũng vậy, đều phải trải qua những rủi ro, mà những rủi ro ấy có thể đến từ hai yếu tố chủ quan, hoặc khách quan. Nông dân phải nhanh nhạy để vượt qua hai yếu tố này.
Mấy năm ra bám mép sông Lô chỗ đầu ghềnh Hang Mang sinh sống, anh chị tôi đã có cuộc sống khá giả hơn. Các cháu tôi lớn lên, học hành tử tế, rồi lần lượt rời xa quê. Nhà vốn neo người, nay lại càng neo hơn. Dạo các cháu còn ở nhà, chúng có thời gian giúp vài việc lặt vặt, để anh chị tôi rảnh rang chăm sóc những lồng cá chiên của mình. Vốn liếng bỏ cả vào đấy, sơ sảy một chút là đi toi cả cơ nghiệp. Người nông dân bản tính vẫn thế, vẫn luôn cẩn thận khi bỏ ra đồng vốn đầu tư làm ăn. Một khi đồng tiền rời khỏi túi, phải cân nhắc thật cẩn thận, phải chắc ăn mới dám xuống tiền. Thực tế cho thấy, nghề mới này cũng lắm rủi ro. Cá mắc bệnh, nêu không kịp phát hiện, chữa trị, từ một con bị, chúng nhanh chóng lây lan ra cả chuồng. Vậy là trắng tay. Rồi mùa lũ về, cây cối từ thượng nguồn đổ về, cuốn vào lồng cá, đêm ngủ say không để ý, sớm mai cả dãy lồng theo dòng nước trôi xuôi. Chuyện này đã từng xảy ra trên cửa sông Năng, sông Gâm, mạn Na Hang. Chỉ sau một đêm lũ đến, những lồng cá bỗng chốc lắc lư, chao đảo, rồi tan ra, nhấn chìm vào sóng dữ. Hàng trăm, hàng nghìn con cá đặc sản đều là công sức, mồ hôi, tiền bạc của người nông dân bỏ ra nuôi nấng, lúc chuẩn bị thu hoạch thì đổ sông cả. Cá theo sóng nước mà đi, ngư dân chưa kịp trở tay trong đêm tối mờ mịt, thì nước lũ ngoài sông Lô cuồn cuộn dâng trào.
Tôi bận việc trên phố, năm vài lượt đánh ô tô về thăm lại quê cũ. Ăn với bác và anh chị tôi bữa cơm, rồi lại quáng quàng đi ngay. Lần này thấy anh gọi điện lên tổng kết vụ cá cũ, tôi thầm mừng cho anh. Nhưng sao giọng anh lại có chút gì đó đượm buồn. Tôi không tài nào lý giải được. Dường như có cái gì đó chưa ổn. Lúc đi ngang qua khúc ngoặt bến Hang Mang, thấy anh vẫn đang bì bõm lội bên mép sóng.
- Nuôi được con cá đến khi xuất bán vất vả lắm, chả bỡn với sông được.
- Nghề nào chả vất hả bác.
- Nghề này, thực ra nếu thuận lợi thì thu nhập khá cao.
- Vụ này thế nào?
- Kém. Tôi chưa kịp nói gì thì anh Thành lại tiếp: Nhưng thôi, chú về nhà trước đi, anh chị dở tay một lát, về bây giờ đấy.
Những chiếc lồng cá trước đây được làm bằng nguyên liệu tre, nhưng giờ anh chị tôi chuyển sang lồng sắt. Từng nan sắt đan vào nhau, mỗi nan có khoảng cách nhất định để tạo kẽ hở cho nước lưu thông, nhưng vẫn đảm bảo cho cá không lọt ra ngoài. Các lồng sắt này xếp liền kề, thả xuống nước, chỉ để nhô lên phần mặt lồng, tiện việc chăm sóc và theo dõi quá trình sinh trưởng, phát triển của cá. Tôi rất suy nghĩ về cái khó khăn và cả niềm vui nghề chăn nuôi cá lồng mà anh Thành nói. Bài toán đặt ra cho người nông dân là phải nắm được quy trình sinh trưởng, phát triển mang đặc tính riêng của từng loài cá, chứ không chỉ đơn thuần là kinh nghiệm dân gian tự truyền tụng cho nhau. Như thế thì mạo hiểm quá. Những loài cá đặc sản như cá chiên, cá bỗng... đều là loài chăn nuôi thuộc loại khó tính. Chỉ cần thiếu kinh nghiệm thực tiễn và nhất là không nắm vững khoa học kĩ thuật, người nông dân phải trả giá đắt. Đã có nhà nuôi cá lồng ở Khánh An bị rồi. Thế nên, rút kinh nghiệm từ những đợt thất thoát, rủi ro từ nghề cá, những người nông dân ở Khánh An đã họp lại, tổ chức thành lập Hợp tác xã chăn nuôi thủy sản trên sông Lô. Từ ngày có cái hợp tác xã, kinh nghiệm được chia sẻ cùng nhau, nên phần nào tránh được tổn thất không mong muốn do thiên tai, dịch bệnh đến với ngư dân tham gia chăn nuôi thủy sản.
Tôi vừa đi vừa nghĩ cho đến lúc xuống xe, bước vào cổng nhà anh Thành thì ý nghĩ vu vơ ấy mới dứt. Trên khoảng sân trước cửa, những chiếc chiếu hoa được trải ra. Những chiếc mâm đựng đầy thức ăn được đặt giữa vào mỗi chiếc chiếu. Trên bàn uống nước, người được mời đã lục tục kéo nhau đến, chủ yếu là cánh ngư dân trong Hợp tác xã chăn nuôi cá đặc sản do anh chị tôi mời đến. Tôi ngồi đợi một lát thì anh chị Thành trở về. Mọi người bỏ dở câu chuyện, rời ghế, lần lượt ngồi vào các vị trí quanh mâm. Anh Thành thay lại quần áo. Hôm ấy anh biện chiếc áo trắng, quần đen, hiệu Việt Tiến, nom sang hẳn lên. Anh chọn chỗ đứng trung tâm nhất, cất giọng trịnh trọng:
- Báo cáo các cụ, các ông và anh em trong nhóm nuôi cá.
Anh Thành có vẻ xúc động. Anh ngừng một lát, dường như muốn để nỗi xúc động ấy lắng bớt đi, rồi mới thưa tiếp:
- Nhân dịp Tết cổ truyền đang đến gần, mùa xuân đang tràn ngập khắp nẻo, trong cái không khí ấy của ngày xuân, vợ chồng tôi sửa biện mâm cơm đạm bạc, gọi là đón xuân, sau là tổng kết một vụ thu hoạch cá. Nào, xin mời các cụ, các ông và mọi người cùng nâng chén mừng cho vợ chồng tôi.
Anh Thành dừng lời, tiếng hô và tiếng ly rượu va đập vào nhau leng keng, nghe rất vui tai và rộn ràng. Trên mâm, mùi thức ăn theo gió bay ra, thơm chật cả một khoảng không gian. Vẫn chỉ là con cá dưới sông, con gà trong chuồng, nắm rau ngoài vườn, toàn loại nguyên liệu tự sản, tự tiêu, qua bàn tay chế biến, nó thơm ngon đáo để.
- Chủ nhà có lời rồi, uống, uống...
Nông dân vốn chẳng mấy để ý đến những chi tiết giao đãi lặt vặt. Họ quen với sự suồng sã và mộc mạc. Thế nên việc ngồi vào mâm ăn uống, họ rất tự nhiên, chả mấy bận tâm đến việc ý tứ. Tôi được người ta xếp vào ngồi cùng mâm với ông Nguyễn Trần Bắc. Ông Bắc vốn là lớp người đầu tiên lên khai hoang trên bến ghềnh Hang Mang, nên ông hiểu được tính cách của từng người dân trong làng. Người ta trọng ông lắm. Trọng ông không phải ông từng là cán bộ cao cấp mà còn ở đức tính giản dị, gần gũi với mọi nhà trong làng. Ông thuộc thế hệ cùng chà tuổi với bố tôi. Ông là người hay chữ. Trước đây làm cán bộ Hợp tác xã, rồi lên huyện làm lãnh đạo. Dạo mới tách tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, tổ chức bố trí cho ông lên với rẻo đất miền biên viễn. Có thời điểm ông từng đảm nhiệm chức Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hà Giang. Ông có nhà và con cái đều công tác trên Hà Giang, gắn bó với đồng bào biên cương cho đến khi nghỉ hưu thì trở về quê cũ sinh sống. Đất Khánh An nuôi ông lớn lên, làm cán bộ to, rồi chính đất Khánh An lại mê hoặc để ông trở về. Nhà nào có công to, việc lớn đều thấy ông có mặt cả. Việc chỉnh trang đường làng ngõ xóm, đoàn kết nội bộ, nhắc nhở, động viên con cháu đều ít nhiều có tác động của ông. Tiếng nói và uy tín của ông đã giúp làng Khánh An có được vóc dáng và diện mạo như bây giờ.
Trong mâm cơm ngày cận tết, ông Bắc bảo với tôi:
- Nhà ông Cận ngày xưa nghèo có tiếng trong làng. Giờ con cái đều có của ăn, của để. Cái nhà anh Thành này là một ví dụ cụ thể, sinh động.
Tôi bảo:
- Nông dân ở đâu cũng vẫn còn khó khăn.
Ông Bắc đáp lại:
- Không hẳn thế. Đành rằng có khó khăn, nhưng nếu biết tổ chức làm ăn có bài bản thì cái khó khăn nó sẽ qua.
Tôi bắt đầu ngà ngà say vì men rượu. Thứ rượu gạo, men lá, do người Khánh An nấu, uống vào thấy trong người nóng bừng lên. Câu chuyện về làng quê cứ theo hơi men mà bay ra, giữa tiết trời đương độ vào xuân ấm áp.
Tôi đáp lời ông Bắc:
- Vâng, nhưng nếp nghĩ và cách làm còn manh mún. Đó là những hạn chế, buộc người nông dân phải thay đổi. Trước đây chỉ làm cò con, quanh quẩn với cây ngô, cây lúa, mấy ai nghĩ đến việc mở rộng lĩnh vực nghề.
Ông Bắc nâng chén rượu, uống một hơi, khà lên một tiếng, vẻ khoái trí:
- Điều này đúng. Nếu cứ quen nếp cũ, cuộc sống sẽ không thể tốt đẹp lên. Cánh thanh niên trẻ trong làng bây giờ có suy nghĩ tiến bộ lắm, chả như cánh tớ ngày xưa, cái thời đi khai hoang.
Anh Thành nói chen vào:
- Thì ông thấy đấy, bố mẹ con cả đời nghèo, con cứ nghĩ, chả lẽ đời mình cứ nghèo mãi sao. Vậy là phải nghĩ, phải mày mò. Cũng may, nhờ có thêm nghề chăn nuôi cá lồng đặc sản trên sông Lô mà cuộc sống khá lên trông thấy.
Bác Cận và bác Hạt tôi mất đi, của cải để lại chẳng có gì, chỉ có đất làm tư liệu sản xuất cho con cái. Anh chị tôi tuy vẫn bám vào đồng đất quê nhà cày cuốc, nhưng đã biết kết hợp thêm một số nghề khác để mưu sinh. Các cháu lớn lên, học hành có kiến thức, lại bay đi khắp nẻo quê để lập nghiệp. Số ở lại nhà thì bây giờ cũng chả mấy đứa để ý đến việc đồng áng, chúng có cách nghĩ và cách làm rất khác so với thế hệ bác Cận, bác Hạt tôi trước đây. Ngay như đám con nhà anh Thành, đều được anh chị nuôi nấng cho học hành bằng chúng bằng bạn. Đứa con gái lấy chồng dưới Đức Ninh, theo chồng về đó ở, sống với nghề buôn bán. Còn thằng con cả nhà anh, nó học chuyên nghiệp ở Hà Nội, rồi có việc làm, lấy vợ, ở tịt luôn dưới đó. Thành thử nhà chỉ hai vợ chồng anh chị. Thỉnh thoảng mới thấy chúng cùng kéo nhau về, ăn với anh chị tôi vài bữa, lại tất tả đi ngay.
Có lần tôi hỏi anh Thành:
- Sao không hướng thằng Hoàng về quê nối
nghiệp bố?
Anh Thành xua tay, ra vẻ không đồng quan điểm:
- Bọn trẻ nó nghĩ khác, mình không áp đặt được. Chúng có cách làm của chúng, nhiều khi mình phải học chúng nó bởi sự năng động trong cuộc sống. Đời mình quen bám đất, đời chúng nó lại không nghĩ thế.
Bữa cơm ngày giáp tết cứ thế kéo dài sang tận chiều. Thời điểm này, người làng Khánh An cũng nhàn nhã đi phần nào. Mọi thứ chuẩn bị cho tết đã cơ bản xong xuôi đâu vào đấy cả. Vài thứ lặt vặt thì chờ đến hôm chợ làng cuối năm hãy mua, thứ gì cũng có cả, có giống thời xưa đâu. Ruộng đã lên đồng, những rảnh mạ non trên vạt bùn nâu tơi trên cánh đồng Lụt, đồng San, Mắt Rồng đang nhú những lá xanh non. Chỉ còn những gia đình buôn bán thì cũng đang hối hả bán nốt số hàng hóa cuối cùng để về kịp sắm tết. Chỉ có mấy ngày tết thì người làng Khánh An mới gặp được nhau đông đủ. Ngày thường, mỗi người mỗi việc, mấy khi gặp được nhau đâu. Anh Thành tôi cũng bước vào theo cái vòng quay ấy. Mấy năm nay hai anh chị có thu nhập khá tốt từ nông nghiệp. Ruộng đồng được thay đổi cơ cấu cây trồng để có giá trị hơn. Nghề nuôi cá lồng trên sông, liên tục được mùa, cá lớn nhanh, ít bệnh tật, đến kì thu hoạch, thương lái đến tận lồng thu mua với giá cao. Cũng vẫn neo bám vào đồng đất như bác Cận tôi, nhưng cách làm đã thay đổi. Căn nhà xây rộng rãi, từ cổng vào đến sân đều lát gạch men bóng loáng. Khu bờ rào và các lối đi dẫn vào nhà, được anh chị trồng nhiều loài hoa khác nhau, màu hoa đương độ rực rỡ, bung nở cả một khoảng đất rộng, mang lại cái không khí ấm áp trong tiết xuân. Các con anh đã kịp trở về quê ăn tết với bố mẹ. Anh chị Thành vui lắm. Niềm vui của anh chị bỗng lan sang tôi. Nom các cháu đều khỏe mạnh, đứa nào cũng xúng xính trong bộ váy áo sang chảnh. Ừ, dù đi đâu, làm gì, các cháu vẫn nhớ cha mẹ, quê hương thì tốt quá rồi. Quê hương là sợi dây vững chắc, níu buộc các cháu tôi không lạc lối trở về.
Tôi bước đi trên con đường làng đã đổ bê tông, rộng bốn mét. Con đường làng vốn lầy lội khi xưa, cây cối mọc xòa ra chắn lối, giờ được người làng mở rộng, được bê tông hóa. Ngay cả cánh đồng Lụt, đồng San, Mắt Rồng, trên các bờ thửa, bờ vùng, bê tông đã đổ phẳng để phương tiện vận chuyển nông sản của bà con trong làng được thuận tiện. Những căn nhà xây mới tiếp tục được cất dựng lên. Làng quê đang có nhiều sự thay đổi. Thế hệ những người đầu tiên trong đoàn người khai hoang từ Ninh Bình lên, dù có trí tưởng tượng phong phú đến mấy cũng không thể nào hình dung ra vóc dáng làng Khánh An trên bến ghềnh Hang Mang sẽ đẹp và trù phú như bây giờ. Đó là sự tâm huyết của các thế hệ người làng. Dẫu khúc sông Lô chảy qua đây đã từng có bao nhiêu sóng vỗ lên cuộc đời, nhưng tất cả rồi cũng yên ả trở lại. Dòng nước lại thong thả đổ qua bến ghềnh. Con nước xuôi đi, chỉ có bến ghềnh vẫn nhẫn nại đứng đó, chứng kiến thân phận buồn vui và cả sự đổi thay của cuộc đời con người nơi làng quê bé nhỏ.
T.B.H
Minh họa của Lương Hiện
