Ghi chép của Lê Na
Một sáng tháng Năm, tôi ngược núi tìm gặp ông, người một thời đã đốt đuốc soi tìm, sưu tầm văn hóa Tày. Năm nay rét khá dài, mãi đến gần giữa hè, mới có được ngày nắng đẹp. Nắng trải dài trên các bãi ngô, triền nương, thung lũng lúa. Khắp những cánh rừng Việt Bắc, cây vừa trút lá, thay tấm áo mới. Sông suối còn mảnh mai, vơi dòng. Một vài cơn mưa đầu mùa chưa đủ thấm tháp so với sự mong đợi của đất đai, nương rẫy. Tôi từ quê hương Tân Trào, theo con đường tỉnh, qua Định Hóa, Thái Nguyên rồi ngược Chợ Mới lên Bắc Kạn. Với tôi, đã quá quen thuộc, từng khúc cua, từng con dốc của Quốc lộ số ba này. Rất thân thương khi gặp những nhánh suối của thượng nguồn sông Cầu. Nhưng chuyến đi lần này, với tôi vừa hồi hộp vừa háo hức. Đôi lúc tôi bất giác, hát thầm một làn điệu dân ca Tày.
Tôi đã thuộc khá nhiều câu tục ngữ, thành ngữ bằng tiếng Tày mà ông đã lặn lội suốt một thời tuổi trẻ ở Tuyên Quang để ghi chép, lưu giữ, bảo tồn. “Điếp căn, thíp vằn tàng củng xẩư/Bấu điếp căn, rườn xẩư củng quây”. (Yêu nhau, chín ngày đường cũng gần/Không yêu nhau, nhà ngay ngõ cũng xa). Tôi đi lên với ông trong tâm thức ấy.
Đường vào bản Nà Dì thuộc xã Dương Quang thành phố Bắc Kạn, đã được đổ bê tông. Qua cây cầu Dương Quang, con đường nhỏ, chừng bốn cây số, vòng vo bên cây rừng và men theo con suối có tên Đôn Phong. Đó là tên xã phía trên, nơi bắt nguồn của suối. Con suối rộng, rất nhiều vịt, bơi tung tăng mặt suối, vì thế trước đây, bản này còn có tên Nà Pất (ruộng vịt). Vượt cây cầu treo nhỏ mang tên bản, qua suối tôi được chiêm ngưỡng bản Nà Dì cuối chiều. Một bức tranh đẹp mê hồn. Xa xa là bóng núi lam chiều, thấp thoáng dáng cọ, dáng cây. Con suối lượn cong mềm mại, sáng lên bên ngô lúa biếc xanh. Bờ suối đã được kè bê tông, nguồn nước chưa nhiều, phơi lộ những dải cát, sỏi vàng óng. Một thung lũng lúa, ngô ôm hờ dòng nước. Lác đác trên đồng, bà con đang vun ngô hay làm cỏ lúa. Những hộ Tày sinh sống ở đây từ bao đời nay. Từ chỗ vài chục nóc nhà nay đã có một trăm mười bốn hộ, bốn trăm, năm mươi tám khẩu. Mái ngói đỏ tươi, bên mái tôn xanh và lưa thưa mái cọ. Cậu bé chăn trâu bên đồi, thấy tôi dừng chụp ảnh cũng tò mò đến và cậu đã chỉ cho tôi ngôi nhà ngói đỏ ở phía cuối bản.
Trước lúc xuất phát, và khi đến thành phố Bắc Kạn, tôi đã gọi điện cho ông. Ông chờ tôi, một người xa lạ và chắc ông cũng thấp thỏm như tôi. Xe máy của tôi phải xuống dốc, rồi lại ngược lên với độ dốc tức ngực. Trước mắt tôi, một người mà tôi hằng ngưỡng mộ. Vầng trán cao và mái tóc thưa, bạc trắng. Bước đi của ông giờ phải có cây gậy hỗ trợ. Ông là Hà Văn Viễn, chín mươi tư tuổi. Tôi dựng xe, còn nguyên bụi đường, nắm chặt đôi bàn tay ấm áp của một ông già Tày đáng kính. Bà vợ ông, phải ngồi xe lăn, cũng ra cửa đón chờ khách.
Biết tin tôi đến thăm ông, chị Hà Thị Noa, con gái của ông cũng có mặt đón tôi. Chị Noa nguyên là Giám đốc Bưu điện tỉnh Thái Nguyên đã nghỉ hưu. Chị hỏi thăm từng người đã một thời gắn bó, sát cánh bên người cha mình. Với Tuyên Quang, gia đình chị mãi gần gũi, thân thương luôn ở trong tim các con, cháu và đặc biệt là người cha chị.
Ấm trà tỏa khói thơm, hương bay nghi ngút. Bộ bàn ghế kê ngoài cửa. Sau mấy câu chào hỏi xã giao, của khách và chủ nhà, tôi đọc cho ông một câu thành ngữ đã thuộc. “Cần ké bặng co lùng chang bán, the lục lan xấư xáng đó khăm” (Người già như cây đa trong bản/để con cháu trú bóng râm). Ông cười, một nụ cười đôn hậu. Để không khí cuộc nói chuyện hết sức thân tình tôi bảo ông, khi nào ông cảm thấy mệt thì nghỉ.
Ông ngồi hướng ra cánh đồng trước nhà. Đôi mắt nhìn xa xăm. Bộ lông mày trắng, rậm chìa ra đan che một khoảng râm trên ánh mắt. Ông bảo, bản này, nếu nói đúng tiếng Tày phải là Nà Rì, nghĩa là ruộng dài. Nhưng người ta phát âm sai, thành Nà Dì. Quen rồi, cứ gọi vậy. Tôi đã sinh ra và lớn lên ở đây. Là người của bản. Đi đâu rồi cũng về bản. Năm một chín bốn chín, đi làm giáo viên dạy lớp Vỡ lòng trường làng, thuộc xã Thanh Mai, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Sau ba năm, tôi được trên điều về Ty Giáo dục, phụ trách khối mẫu giáo. Đến năm một chín năm chín mới đi học hệ Bổ túc công nông ở thành phố Thái Nguyên. Ba năm sau, tốt nghiệp cấp ba, được tuyển vào học tại khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm một chín sáu tư, sinh viên Hà Văn Viễn, vừa tốt nghiệp được điều về công tác tại Ban Dân tộc thuộc Tỉnh ủy Tuyên Quang.
Gọi là Ban, nhưng ban đầu, chỉ có mình ông Viễn. Bí thư Tỉnh ủy là đồng chí Trần Hoài Quang. Năm một chín sáu tám, Ban Dân tộc được biên chế bốn người, do ông Bàn Chí Hàm, người Dao Tiền, làm Trưởng ban. (Sau đó ông Hàm được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, nay đã mất. Quê ông ở xã Minh Hương, huyện Hàm Yên, Tuyên Quang - Tác giả). Trong số bốn người thì hai người ở Bắc Kạn, ông Viễn và ông Hà Văn Phụng, quê ở xã Thanh Bình, huyện Bạch Thông. Sau này ông Phụng từng làm Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn và cũng đã mất.
Công việc mà ông được giao là đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tại vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, nắm bắt những tâm tư nguyện vọng và đề xuất của bà con, kiến nghị với cấp trên... Từ việc này, chàng trai trẻ năm ấy đem lòng yêu các bản làng của Tuyên Quang. Cùng ra trường với ông có bạn học cùng khoa Sử là ông Nguyễn Văn Mạch, (nhà văn Phù Ninh), kém ông mười một tuổi, ông Mạch là người đã khơi nguồn cho những sưu tầm, nghiên cứu của ông.
Ông yêu đến đam mê ca dao, tục ngữ, thành ngữ Tày. Bàn chân của ngày xưa, rắn rỏi và vững chãi kia đã từng trèo đèo lội suối, băng rừng khắp mọi nẻo đường rừng núi Tuyên Quang. Giờ đôi bàn chân ấy, xỏ trong đôi dép lê màu lá, tưởng chừng như dép muốn rời ra. Mười một năm sống với bản làng vùng cao, bằng đôi chân trần, ông đã đến mọi hang cùng, ngõ tận của bản. Ông lặng lẽ bỏ công sức đi sưu tầm vốn văn hóa độc đáo này hoàn toàn từ đam mê và làm ngoài giờ hành chính. Mỗi ngày ông không ghi lại được một vài câu tục ngữ, thành ngữ là cảm thấy áy náy. Trong khi không ít người về cơ sở là đòi hưởng thụ món ngon, của lạ. Chàng trai Tày ấy như con ong chăm chỉ, đi gom mật ngọt cho đời.
Ông nói với tôi chỉ tiếc là còn hai xã của Tuyên Quang ông chưa đặt chân tới, đó là xã Kiến Thiết, huyện Yên Sơn và xã Trung Hà, (Nơi có thác Bản Ba) huyện Chiêm Hóa. Ông nhớ mãi những chuyến đi bộ, mưa lớn, suối dâng thì chờ nước rút. Sạt núi, lở đèo tìm đường khác vượt qua. Có lần ông phải đi xuyên núi từ xã Sinh Long rồi vượt qua sông Gâm đến xã Đức Xuân, huyện Na Hang. Đồng bào những năm đó còn nghèo đói, lạc hậu, thiếu thốn đủ thứ. Ông chuẩn bị cả đèn dầu mang theo để tranh thủ ghi chép, tránh phiền hà đến dân. Ngày đông lạnh giá, nhờ ánh lửa bếp nhà sàn soi từng nét chữ. Ông ăn ở chia sẻ cùng dân những đói rét. Ông tìm đến những người già làng trưởng bản; những người có uy tín, những thầy Mo, thầy Tào, những Then, Pựt, Lằn để khai thác, ghi chép tư liệu. Nếu không nhanh, không khéo khai thác, những nhân vật đó sẽ mai một, khuất núi.
Biết câu chuyện xưa của chồng mình với khách, bà vợ ông đẩy xe lăn ra. Bà là Tạ Thị Uyên, chín mươi mốt tuổi, một người phụ nữ Tày đảm đang, trung hậu. Năm một chín năm ba, hai ông bà xây dựng gia đình. Rồi suốt những năm sau đó, bà một mình nuôi con, dạy bảo chúng học hành rồi trưởng thành. Nay, mái tóc bà không còn một sợi đen mà gương mặt toát lên nét phúc hậu. Ông bà có bảy người con, một trai đầu và sáu gái sau. Cơm gạo Nà Dì và nước suối Đôn Phong đã nuôi chúng lớn khôn.
Tôi ngỏ ý muốn được chụp cùng ông một bức ảnh kỷ niệm. Các con ông muốn bố mình thay áo mới, nên vào phòng chuẩn bị. Bà Uyên nghe lại tưởng đưa ông đi đâu, nên tỏ ra lo ngại. Đến bữa ăn, các con, cháu phải cho bà ăn trước. Lúc nào bà cũng lo nghĩ cho ông. Thật hiếm có một người phụ nữ nào luôn hi sinh và dành tất cả cho chồng, con như bà.
Cuối năm một chín bảy lăm, ông Viễn được chuyển công tác về Tỉnh ủy Thái Nguyên. Đất nước vừa giải phóng, niềm vui hòa bình còn rạo rực trong mỗi người dân đất Việt. Tài sản chuyển vùng của ông là chiếc xe đạp cơ quan ưu tiên cho mua từ độ ấy. Chiếc Thống Nhất tầm tã, tả tơi qua mỗi lượt đi về khắp các bản làng vùng núi Tuyên Quang. Giờ lại làm bạn với ông mỗi lần đi công tác, mỗi chuyến nghỉ phép về quê. Năm một chín tám ba, ông Viễn được nghỉ hưu theo chế độ. Chiếc xe đã tàn tạ sau gần hai mươi năm nhọc nhằn, gian khó. May thay, ông lại được cơ quan phân cho đôi lốp trước khi nghỉ. Ông già Viễn về hưu, sau ba mươi tư năm gắn bó với nghề, hãnh diện khoác trên vai hai cái lốp xe, đạp xe về Nà Dì. Hai con số không to tướng choàng qua ngực. Đó không phải là vòng nguyệt quế, nó chỉ là phụ tùng của một phương tiện giúp đôi chân ông xem chừng đã mệt mỏi. Cũng không giống một số người khác, về hưu là tìm mọi cách thoát bỏ quê hương, tìm nơi an nhàn. Ông về với bản nhỏ, đêm ngắm sao trời, ngày xem nước chảy qua mỗi mùa vụ.
Tôi nói vui với ông, giờ chú như một cây cổ thụ của làng, tỏa bóng che chở cho cháu con, hàng xóm. Chú như cây lim, cây nghiến bền bỉ cắm sâu vào lòng đất quê mà thả hồn cùng mây, gió. Ông vẫn chỉ khiêm tốn, ước mình được là cây trám, cây sung, còn chút gì thì dành cả cho con cho cháu. Ông đã xa mảnh đất Chiến khu cách mạng tròn năm mươi năm nhưng tình cảm của ông còn vương vất nơi đó. Những gian khó đã găm sâu vào cuộc đời ông.
Cuối năm ngoái, ông gửi qua bưu điện một tập tư liệu quý cho Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang. Đó là những ấn phẩm của ông in chung với nhà văn Phù Ninh. Trong một bức thư viết tay gửi kèm, ông viết: “...Tôi công tác ở Ban Dân tộc, Tỉnh ủy Tuyên Quang từ năm 1964 đến hết năm 1975 thì về Bắc Thái, nghỉ hưu 40 năm rồi... 50 mươi năm nhớ Tuyên Quang, xin được kính chúc Giám đốc và anh chị em công tác Bảo tàng tỉnh luôn mạnh khỏe...”.
Hiện nay ông bà sống với người con trai cả, anh Hà Văn Dương, sáu mươi tám tuổi. Ông được hưởng lương hưu với bảy triệu, bảy trăm ngàn đồng một tháng. Số tiền đó không nhiều những đủ để chi tiêu ở bản. Anh Dương bị bại liệt từ nhỏ, đôi chân đi lại khó khăn, nhưng hai vợ chồng anh vẫn làm rừng, ruộng, chăn nuôi phát triển kinh tế khá. Các cháu nội của ông Viễn đều đã tham gia công tác. Ông vui vì cả sáu cô con gái đều đã thành đạt. Con gái thứ, Hà Thị Noa, nguyên là Giám đốc Bưu điện tỉnh Thái Nguyên, đã nghỉ hưu từ hai nghìn mười sáu. Các con khác, hai người giáo viên, hai trong ngành Viễn thông và một người công tác ngành Thuế. Vui nhất là ông có cháu gái nội tên Hồng, đang công tác tại Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn, được gia đình giao làm “thư ký riêng” cho ông. Mọi yêu cầu đánh máy văn bản đều do cháu thực hiện.
Lúc ngồi uống nước, tôi hỏi vui: Những năm ở Tuyên Quang, ông còn trẻ, lại đẹp trai, vậy có cô nào “nhòm ngó” ông không? Ông cười hiền. Mình mải mê công việc, chẳng chú ý đến. Thế ông có kỷ niệm sâu sắc với người phụ nữ Tày nào ở Tuyên Quang? Ông lại cười. Ông khen gái Tuyên Quang đẹp lắm, nhất là người Tày. Họ chăm chỉ việc nương rẫy, đảm đang việc nhà và họ duyên dáng, đáng yêu. Tôi đã có bà ấy ở nhà, đã vất vả thay tôi, chăm sóc mẹ cha, nuôi dạy con để mình yên tâm công tác. Mình sao nỡ...
Những năm đầu, với mức lương sáu mươi tám đồng một tháng. Đến năm một chín bảy hai, ông được bổ nhiệm là Phó ban Dân tộc, mức lương thêm mười hai đồng nữa. Tiền lương là thứ chỉ để cho “oai” rằng ta là cán bộ, có tiền Nhà nước trả. Xuống bản ăn ở nhà dân, trả cho bà con ba đồng. Ngủ thì không phải trả tiền. Nhiều khi về nhà lại xin thêm tiền vợ. Ông nhớ lại, năm một chín sáu tám, được cơ quan phân cho mua một chiếc xe đạp Thống Nhất, với giá hai trăm đồng. Loay hoay mãi không đủ tiền, ông lại phải về quê xin vợ trợ giúp. Mỗi lần đi, bà vợ ông lại chuẩn bị cơm nắm, muối vừng ăn dọc đường. Nghĩ thương vợ lắm, nhưng ông chẳng biết làm cách nào.
Một lần, ông quyết định mua một chiếc cối đá mang về quê cho bà sử dụng. Ông mua tại xã Trung Hòa, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, với giá mười đồng. Rồi lại tự mình gánh hai thớt cối, ngót sáu mươi ký, đi chín kilomet lên để huyện lỵ. Lúc đi ô tô, lúc gánh bộ, khi thì chở bằng xe đạp, cuối cùng bộ cối đá cũng về được Nà Dì qua quãng đường gần ba trăm cây số. Nó đã một thời hỗ trợ đắc lực cho bà việc nội trợ. Hàng xóm xung quanh cũng đến nhờ vả. Còn hôm nay, không biết nó nằm đâu đó bên ngoài ngôi nhà xây kiểu cách, lợp ngói đỏ tươi của gia đình ông.
Ngày nay, khi mà xã hội phát triển, nền văn minh của nhân loại ngày một thế chỗ, lấn át vẻ đẹp của bản sắc dân tộc, của truyền thống thì gia tài của nhà nghiên cứu sưu tầm văn hóa Tày, đặc biệt là tục ngữ, thành ngữ là vô cùng quý báu cho việc bảo tồn văn hóa của tộc người này. Là người cầu toàn, ông tham khảo thêm từ những người am hiểu phong tục, tập quán và tiếng Tày ở địa phương để chỉnh sửa cho hoàn thiện tư liệu. Trong số đó, nhà văn Phù Ninh là người có công rất lớn, trong dịch nghĩa, dịch ý và quan trọng nhất là gieo vần để mọi người dễ đọc, dễ thuộc. Ông cũng đã tham khảo nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Tày, Ma Văn Đức, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang, nhà báo Hà Doãn Tồn, nguyên giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Tuyên Quang.
Năm một chín chín ba, ấn phẩm Tục ngữ, thành ngữ dân tộc Tày do Hà Văn Viễn và Phù Ninh sưu tầm, dịch và Hà Doãn Tồn, Ma Văn Đức hiệu đính, được Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản. Năm hai ngàn mười một, Câu đố các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang do Hà Văn Viễn và Phù Ninh sưu tầm cũng đã được in ấn, phát hành. Năm hai không mười chín, nhà nghiên cứu Văn hóa Tày Hà Văn Viễn được Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang trao tặng Giải thưởng Tân Trào. Đúng vào dịp này, ông Viễn bị ốm, phải điều trị tại Hà Nội. Thay mặt ông có con gái là Hà Thị Noa đến nhận giải thưởng...
Đầu năm hai ngàn không hai lăm, ông Viễn đã được nhận Huy hiệu sáu mươi lăm năm tuổi Đảng. Đó là niềm vui chung cho cả gia đình ông và thôn bản. Công lao đóng góp của ông đáng được tôn vinh. Khắp một vùng Việt Bắc boong hây còn in dấu chân và công sức của một người rất đỗi bình thường, nơi bản nhỏ. Những câu tục ngữ, thành ngữ và câu đố của đồng bào sẽ sống mãi cùng thời gian...
Chia tay ông và gia đình, sao bỗng thấy dùng dằng đến thế. Tôi ôm ông vào lòng, đầy xúc động. Ông lóng ngóng đón tôi, đôi tay ông run run ôm tôi như ôm một đứa trẻ. Tôi thấy mình quá nhỏ bé so với bóng dáng ông. Dù sao tôi cũng thỏa lòng mình được gặp ông, tặng ông chút quà nhỏ. Và, sáng ấy, tôi đã lội chân trần xuống dòng suối Đôn Phong, vớt lên vài viên cuội đẹp. Tôi đã đi dọc cánh đồng ngô lúa non xanh. Con suối ấy đã mang tâm hồn và văn hóa người của bản ra sông lớn rồi hòa vào đại dương mênh mông...
Tháng 5/2025
L.N
31-05-2025
30-05-2025
29-05-2025
29-05-2025
