Bút ký của Tạ Bá Hương

Hang Mang là một ghềnh đá của khúc sông Lô. Ghềnh này gồm những khối đá xám lạnh, xếp chồng lên nhau tạo thành nhiều lớp, nhô ra sát mặt nước. Đoạn qua đây nước chảy xiết, hung dữ, chẳng giống như đoạn chảy qua làng Bình Thuận, phía trên làng Khánh An, nước có vẻ hiền hòa hơn. Nhìn thế sông như vậy, người ta nhận ra cả một đoạn sông dài chảy theo hình chữ “lờ”. Phần sông chỗ Bình Thuận chỉ là bờ đất, không có ghềnh thác, nên mỗi ngày sông cứ đủng đỉnh đổ nước xuôi dòng. Nhưng khi chạm vào ghềnh đá Hang Mang, lòng sông chợt gấp khúc, bến sông trở thành góc vuông của cái hình chữ “lờ” ấy. Tại góc vuông này, những khối đá vôi khổng lồ, nhiều hình thù, sắc nhọn, lấn dần ra chiếm phân nửa lòng sông. Lòng sông vốn hẹp, giờ gặp cả một ghềnh đá chắn ngang, chạy dài cả trăm mét ở phía hữu ngạn, nên lòng sông nom càng hẹp. Những khối đá ở đây cậy mình có sức nặng, đá lao ra gây sự với sông. Con sông cũng chả chịu thua, sẵn sàng dồn nước, hung hãn, gầm rú, rồi ồ ạt lao vọt qua. Những phiến đá sắc nhọn dưới chân bến ghềnh bỗng trở nên bất lực, đành câm lặng để dòng nước kịp chuyến về xuôi.
Cả một khúc sông vừa hung dữ, vừa lành hiền, cứ thất thường như thế. Lúc dịu dàng dễ chịu, lúc lại trở tính, trở nết, sẵn sàng thét gào mỗi khi trong lòng cảm thấy bất an. Một đời sống vẫn vậy, chẳng bao giờ chịu thay đổi, dẫu thời gian và đời người có biết bao nhiêu sự đổi thay. Nhưng con sông cũng vô cùng có giá trị, mang lại nguồn lợi cho nhiều làng mạc sinh sống trên đôi bờ. Những chiều hè yên ả, khi mặt trời còn chói chang, chưa kịp lặn sau dãy núi Vịt, đám trẻ con trong làng lại lùa đàn trâu, bụng no tròn xuống bến Máy. Cái bến Máy cách bến Hang Mang không xa, nước nông hơn và độ dốc không quá lớn. Chỗ này là nơi tắm táp của cả người làng Khánh An. Gọi là bến Máy vì nơi đây, dưới gốc cây long não già, người ta đã đặt một trạm bơm công suất lớn. Trạm bơm ấy có nhiệm vụ bơm nước từ sông Lô lên, chảy qua các con mương đất mà mang nước tưới mát cho các cánh đồng làng mỗi khi mùa vụ gặp thời tiết khô hạn kéo dài.
Sông Lô vốn tính đỏng đảnh, thất thường. Cứ vào cữ tiết Thu, cả một khúc sông trở nên đẹp đẽ, nước trong vắt, có chỗ còn nhìn thấy cả đáy sông. Những buổi chiều khi hoàng hôn buông xuống, đứng từ bến Hang Mang nhìn ngược phía thượng nguồn, do khúc xạ ánh sáng, con sông như bức tranh cổ điển, nhiều màu sắc. Vào cữ Thu, sông chả vội vàng, cứ đủng định mà đỏm dáng trong ánh nắng hong hanh cuối ngày. Thế nhưng, khi vào cữ tháng Ba, lúc người làng Khánh An vật lộn với cái đói giáp hạt, khúc sông lại trở nên trầm tính hơn. Lòng sông thắt hẹp, gầy guộc và xanh xao, nom chả khác nào cánh đàn bà nghén dở. Chỉ khi mùa hạ đến, những cơn mưa dai dẳng trên thượng nguồn đổ xuống, nước dâng lên xối xả. Bầu trời xám xịt, chớp nhì nhằng phát nổ trên dọc đôi bờ đang âm ỉ những cơn sóng vỗ.
- Vậy là mùa lũ đã về.
Ông ngoại tôi chép miệng, vẻ mặt đầy lo lắng. Mấy hôm trước, ông tôi xem thiên văn từ các chòm sao nhấp nháy trên bầu trời mùa hạ đã nói như vậy. Ông tôi vốn là thợ phó cối, ít học, nhưng được cái có tài xem thiên văn. Chỉ cần nhìn lên bầu trời, cân đo đong đếm các chòm sao mà thiên tạo sắp xếp, đều biết tới đây sẽ mưa hay nắng. Ngày xưa, khi không có dự báo thời tiết như bây giờ, ông tôi chỉ dựa vào kinh nghiệm mà bố trí mùa vụ, thu hoạch cây trồng khi thời tiết chuyển dạ. Thế nên, sớm hôm sau cả nhà đã thấy ông tôi từ cánh đồng Lụt trở về. Người ông bê bết bùn đất, hai tay đứng chống nạnh ngoài sân, gọi với vào trong nhà khi mọi người còn đang ngái ngủ.
- Bu nó đâu, chuẩn bị đòn gánh, quang, liềm... gặt chạy lũ thôi.
Bà ngoại tôi trở dậy, vấn lại chiếc khăn nâu trên đầu, quáng quàng tìm các vật dụng cần thiết để bắt tay vào thu hoạch lúa. Nhiều vụ, lúa còn chưa kịp chín hẳn, chỉ hoe hoe đầu bông cũng đã thu hoạch rồi. “Non nhà còn hơn già đồng” là thế. Kinh nghiệm cho thấy, cứ khi lũ chuẩn bị tràn về, ưu tiên đầu tiên là phải thu hoạch lúa trên đồng Lụt, Mắt Rồng trước. Những cánh đồng này vốn trũng thấp, lũ sẽ đổ bộ vào đầu tiên, trước khi xâm lấn vào những khu vực khác trong làng. Còn cánh đồng San, do ở trên cao nên lũ sẽ xâm lấn muộn hơn. Trong một không gian yên ả, đâu đó rộ lên những tiếng gọi nhau ý ới. Tiếng la mắng, rồi tiếng hỏi nhau vang vọng cả một góc làng. Bà Được mấy nay ốm, nằm ở nhà. Nằm mãi chả ngủ được, lòng bà như có lửa đốt. Ông chồng thì bận trực máy bơm Hợp tác xã ở ngoài bến Máy, mãi chả thấy về. Bà nghe ông tôi hò vậy, cũng vội lùa đám con cái nhanh tay chuẩn bị dụng cụ thu hoạch. Chả mấy chốc người lớn tay liềm, tay đòn gánh, trẻ con lùa trâu ra đồng. Lúc thấy bóng người đi ngang qua, bà Được thập thò cái đầu ra cửa, hỏi:
- Lũ sắp về rồi à?
- Chả thế thì sao. Cứ ở nhà mà ôm nhau thế, lúa nó tự bò về chắc?
- Bà nói thế nào, nhà em cũng chuẩn bị xong cả rồi đấy.
Bà Được cười khanh khách, chả giận, cũng chả buồn đáp lại. Bà tôi cũng chả buồn để ý, đôi chân chạy quáng quàng ra cánh đồng Lụt.
Công việc thu hoạch lúa bắt buộc phải thật sự nhanh chóng, chỉ đủ thời gian độ một đến hai ngày, không được kéo dài thêm. Dịp đó nhà nào cũng gồng mình lên, huy động toàn bộ nhân lực, vật lực để thu hoạch lúa và các cây nông nghiệp ngắn ngày khác. Thậm chí người già, trẻ nhỏ đều được huy động cả. Ai cũng có việc của mình. Người già ngồi chẻ lạt nứa, buộc vào thành túm, rồi gửi ra ngoài đồng cho cánh thợ gặt. Trẻ con thì rong trâu, kéo xe bò, xe quệt ra chân bờ ruộng để người lớn gánh từng gánh lúa dưới ruộng lên, đặt ngay ngắn vào cái thùng xe lắp bằng gỗ tạm, nhà nào khá hơn thì lắp thêm đôi bánh lốp. Khi nào các thùng xe ngồn ngộn những bó lúa, lũ trẻ con cong người kéo căng cái thừng trên tay, con trâu ì ạch lết từng bước chân mà tỏa về những ngôi nhà.
Trên các trục đường làng, đoàn người xuôi ngược như thoi. Nom ai cũng vội vã, đầy lo lắng. Đoàn trâu nối vào nhau cả một đoạn dài, mặt đường mờ mịt bụi. Cái không khí khẩn trương ấy năm nào cũng diễn ra như vậy. Có năm nước lũ trên sông Lô về sớm, mưa đổ dài tầm tã, người làng Khánh An đành đội mưa mà lao ra cánh đồng, mong giữ lại những bông lúa bắt đầu đổ gục, nằm thoi thóp trên mặt đồng, khi lũ đã lấp rấp qua bắp chân người lớn. Những tiếng làu bàu, chửi tục của người già, xen lẫn tiếng cười đùa của cánh thanh niên trong làng cứ đặc quánh lại trong những cơn mưa trắng xóa. Nhưng thứ âm thanh ấy sẽ lan ra khi mưa tạnh, bầu trời sáng lên bởi những tia nắng le lói. Người nông dân nơi bến Hang Mang bao lâu nay vẫn vậy. Họ luôn biết lo toan, một đời cày cuốc khó nhọc, nhưng cũng đầy sự lạc quan, yêu đời. Ngay cả trong gian khó, phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, đối mặt với sự thiếu túng, song tiếng cười là liều thuốc bổ để họ có thêm sức mạnh, sẵn sàng đối đầu với bao nhiêu thua thiệt đang vây bủa lấy cuộc sống của họ.
Bữa cơm ngày lũ về cũng trở nên vội vã. Bình thường, bữa cơm là dịp để các thành viên trong mỗi gia đình ngồi xúm lại với nhau, chuyện trò vui vẻ. Nhưng bữa cơm ngày lũ thì cứ nguội ngơ nguội ngắt, chả ai buồn ăn. Tất cả người trong làng đều lo lắng. Nhiệm vụ của họ lúc này là tập trung vào thu hoạch hoa màu, trước khi lũ về. Cắm được cây lúa xuống mặt bùn, người làng Khánh An trải qua biết bao nhiêu nỗi lo lắng trong lòng. Cây lúa sẽ phát triển ra sao đều phụ thuộc vào cả thiên nhiên, chứ người làng Khánh An không thể quyết định được. Thời tiết năm nay diễn biến ra sao? Chuột bọ vụ ấy có phá hoại không? Sâu bệnh thế nào? Được mùa hay lại thất bát? Biết bao nhiêu câu hỏi được đặt ra trong đầu người nông dân trên khúc sông chảy qua bến Hang Mang.
Thời điểm những bông lúa bắt đầu trải một màu vàng rộm trên khắp mặt đồng, cứ nghĩ thành quả của một vụ “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” sẽ được đền đáp xứng đáng, thì người làng lại lo ngay ngáy mỗi khi lũ về. Hạt thóc chưa kịp chín rộ, đã có nguy cơ bị lũ lấy đi. Bởi vậy, người làng buộc phải giành giật miếng ăn với lũ. Chỉ khi nào hạt thóc mang nặng giọt mồ hôi được phơi phóng khô giòn, đóng thành từng bao tải, xếp trong góc nhà, đổ đầy vào những chiếc hòm gỗ, khi ấy người làng mới thực sự yên tâm mà thở phào nhẹ nhõm. Thế nhưng, cái sự nhẹ nhõm ấy chỉ là xong một việc, người làng còn có thêm nỗi lo khác, lớn hơn, khốc liệt hơn. Nếu mất mùa thì cả mấy tháng giời, các miệng ăn sẽ đói dài đói rạc. Mất đồ đạc, tài sản, nhà cửa và cả tính mạng con người mới là nỗi lo canh cánh nhất của người nông dân trong mỗi bận lũ tràn qua. Lũ có thể nuốt chửng mọi thứ của người làng Khánh An vào trong cái biển nước đục ngầu, cuồn cuộn.
Mùa lũ bao giờ cũng bắt đầu từ những tia chớp lóe lên nhì nhằng và những đám mây đen treo nặng trĩu phía đằng Đông. Những hạt mưa lác đác rơi lộp bộp trên tàu lá chuối non nơi góc vườn. Gió rít liên hồi, khiến những ngọn cây lắc lư như gã say rượu, như muốn bật rễ ra khỏi đất. Mưa nặng hạt dần, đâu đó vọng lên những tiếng sấm nổ liên hoàn, giống như tiếng trống khua trận. Cả bầu trời trắng xóa vì mưa. Ngoài bến Hang Mang, sông hối hả dâng nước đầy lên, sóng réo sôi, tràn cả lên đường đi, tràn qua các cống ngầm của người làng. Chẳng mấy chốc, đồng Lụt chỉ còn lại một màu xám đục, ngập chìm trong biển nước. Từ nơi trũng thấp, nước lại dâng lên đồng San, Mắt Rồng. Những thân rạ bị ngâm sâu trong nước, phả ra mùi hăng nồng, ngai ngái. Xác các loại côn trùng chết theo gió bốc mùi lên tanh tưởi. Tiếng ếch nhái trong ao đầm rộn lên uôm uôm, nghe thật não nề. Làng Khánh An và mấy làng sống dọc theo đôi bờ sông Lô, nhiều đoạn bị chia cắt bởi nước, nhiều khu vực trở thành ốc đảo. Có bận, nước lũ dâng cao, hàng chục căn nhà trong làng bị chìm lấp, có những nhà chỉ còn nom thấy một chỏm nóc lơ phơ, đang dập dềnh trong ngày nước lên.
Mùa lũ về, nỗi lo của người làng Khánh An không chỉ là hạt lúa, củ khoai ngoài đồng mà còn là nỗi lo chạy người, chạy của. Bao năm làm lụng, tích cóp, của cải chả dư dật gì, nhưng nó là mồ hôi, công sức của các thành viên trong gia đình. Việc chạy lũ, vận chuyển đồ đạc lên chỗ cao ráo mất khá nhiều thời gian và công sức. Thời ấy, tuy nghèo, nhưng người làng thương nhau lắm, nhà nọ, nhà kia sẵn sàng chìa tay giúp đỡ, chia sẻ nỗi khó khăn với nhau. Những nhà ở khu đất thấp, trước khi bị nước lũ nhấn chìm, họ đã vội vã dọn khuân đồ đạc, gánh gồng sang trú ngụ tạm thời ở những nhà trên phần đất cao mà lũ không vào được. Người già thì khoác tay nải, xách các bu gà; trẻ con dắt con trâu kéo lê trên đường. Còn các thành viên có sức khỏe thì vận chuyển cái hòm thóc, khuân vác giường chiếu và các vật dụng quan trọng. Nhà nọ hộ hành nhà kia, thể hiện rõ tấm lòng với nhau, động viên nhau vượt qua mùa lũ. Con đường đất của làng thường ngày bụi đỏ bay mù mịt, khi mưa xuống, đất nhão ra, lầy lội, có chỗ bùn ngập đến cả đầu gối người lớn.
Làng chỉ có dăm nóc nhà được cất dựng trên phần đất cao. Nhà tôi nằm ở đỉnh dốc Bà Bẩy, được xem là chỗ cao nhất. Dịp chạy lũ, không chỉ nhà tôi mà nhà ông Giang “lắc”, bà Cam, bà Bẩy, ông Hóa và bà Tại vô hình chung trở thành nơi người làng Khánh An gửi gắm đồ đạc và trú ngụ để chờ nước lũ rút. Nhà ông bà ngoại tôi nằm trên chỗ đất thấp, nước lũ ngập đến nửa bức tường đất. Ông ngoại tôi bao giờ cũng là người chủ động nhất. Trước khi lũ về, ông đã kịp hò bà tôi, các cậu, các dì sớm vận chuyển toàn bộ đồ đạc lên nhà tôi cất giữ. Nhưng cũng có cái không thể nào mang theo người được, đành chịu để cho lũ mang đi.
Có lần tôi thấy ông tôi xót của, cáu nhặng lên:
- Tiên nhân cha nó, ông đây mất không cái vườn mía.
Bà tôi tuy xót của, nhưng không nói ra, chỉ làu bàu:
- Thời tiết thế này, lo người còn chưa xong nữa là.
Ông tôi vặc lại:
- Bà nói thế thì nói làm gì.
Kể cũng tội. Vườn mía tím cạnh nhà, rộng mấy sào ta, là công sức của ông tôi chăm bẵm bấy lâu nay. Những thân mía mập mạp, cao quá đầu người, thân tím bẫm, ngọn vươn lên đầy sức sống, là tia hi vọng có thêm nguồn thu nhập để cải thiện cuộc sống, hoặc chí ít cũng có tiền mua cho các cậu, các dì tôi manh áo mới. Chỉ còn độ đôi tháng nữa, thân mía tích đường, ông tôi sẽ thu hoạch để bà tôi mang ra chợ Quang Thái ngồi bán dạo.
Dịp lũ về, nom mặt ai cũng phờ phạc cả. Họ sống chung trong mấy nóc nhà mái gianh, nhưng đầm ấm. Bọn trẻ con trong làng, ngày lũ về mới được ở tập trung đông như vậy. Chúng vui vẻ cười đùa, đôi khi còn chí chóe, chửi tục và đe nẹt nhau, rồi lại chơi với nhau thân thiết như anh em. Buổi tối, chúng chen chúc ngủ trên những chiếc giường gỗ mộc, đôi khi ngủ cả trên nóc hòm thóc, hoặc trải những chiếc bao tải dứa ra nền đất mà nằm. Giấc ngủ của bọn trẻ cứ chập chờn, lấm láp giọt phù sa, dẫu bữa cơm ngày lũ có phần đạm bạc, không thực sự đủ đầy. Người lớn chia nhau từng bát cơm ám khói, từng mẩu sắn luộc và họ gánh đỡ nhau muôn nỗi bộn bề, lo lắng. Chỉ đến khi nước rút, họ mới lục tục dắt díu nhau trở về căn nhà của mình. Sau lũ, nhiều căn nhà đều ẩm mốc, bùn ken dày dưới nền, trên các bức tường. Công việc ưu tiên lúc này là dọn dẹp nhà cửa, nhanh chóng ổn định lại nơi ăn chốn ở. Họ hi vọng dư âm cơn lũ sớm đi qua, cuộc sống sẽ diễn ra bình thường trên làng quê bé nhỏ. Dường như thiên nhiên đang thử thách người làng Khánh An chăng? Có lẽ là như vậy. Mỗi năm lũ trên sông Lô bất ngờ đổ bộ vào làng vài bận. Những con người một đời chân lấm tay bùn, sống mộc mạc, lành hiền như đất, như rừng, nhưng lại trở nên rắn rỏi hơn sau mỗi bận lũ qua.
Lũ rút đi để lại lòng sông Lô đầy củi và rác. Trên cái màu nước đỏ đùng đục đang cuồn cuộn xuôi dòng, sóng dựng bờm, mang theo củi với rác xô đập vào ghềnh đá nơi bến Hang Mang, nghe chát chúa như tiếng gỗ lăn. Đôi bờ lộ ra những bãi phù sa sấp nước. Trên cánh đồng làng, những cây ngô gầy guộc, bùn đất bê bết, dính chặt vào thân. Dòng sông trở nên hung hãn. Nước vẫn còn réo sôi phì phì. Dưới chân ghềnh, củi nhỏ, củi gộc từ thượng nguồn kéo về, đan kín cả mặt sông trôi. Đây là thời điểm mà người Khánh An gọi nhau ra khu vực bến Hang Mang vớt củi làm chất đốt. Dịp này, dường như nhà nào cũng sẵn củi đun. Trên khoảng sân rộng, sau chái nhà, ngoài vườn và cả hai bên lối đi dẫn vào nhà, những đống củi xếp sát vào nhau, cao quá đầu người lớn. Sau mỗi lần lũ tràn về, người làng tranh thủ tích trữ chất đốt, dành cho việc đun nấu cả năm.
Đám trẻ con choai choai chúng tôi lao ra sông. Dọc từ bến Hang Mang kéo dài đến gần bến Máy, chỉ thấy người là người. Mỗi người lựa cho mình chỗ đứng phù hợp nhất. Phía bên kia sông là những làng mạc của Chiêu Yên, một xã thuộc huyện Yên Sơn. Hai huyện nằm kề nhau, chỉ cách có đôi bờ sông chảy. Nhưng do độ dốc của lòng sông nghiêng hẳn về phía bến Hang Mang, nước chảy xiết, mọi thứ mà con nước đi qua đều đổ về phía bờ bên này. Có bận, người làng còn vớt được cả xác người chết, không biết ở đâu trôi về. Củi thì nhiều vô kể. Những chiếc sào nứa liên tục vươn ra lòng sông. Trên đầu sào buộc nối chiếc mỏ neo bằng gỗ, ngoắc những thân gỗ nhỏ, gỗ to vào mỏ neo, rồi kéo tuột lên bờ.
Cô bạn cùng trang lứa với tôi vẫn thường lẵng nhẵng theo mẹ ra sông vớt củi, nhưng mùa nước năm nay chả thấy xuất hiện. Hỏi cậu tôi, cậu tôi bảo:
- Nó về tỉnh học được mấy tháng rồi.
Lòng chợt rộn lên nỗi hụt hẫng. Tôi nhìn ra dòng sông, dòng sông vẫn vô tình chảy trôi qua năm tháng đời người. Thời ấy, về tỉnh học thì cả làng chả được mấy người. Oách lắm. Lũ trẻ mới lớn cùng trang lứa với chúng tôi từ khi sinh ra đến giờ, chưa có đứa nào một lần được đặt chân ra khỏi làng, thế nên nghĩ đến phố xá, thấy nó là cái gì xa vời lắm. Mấy năm trước, bố tôi bán nhà để chuyển ra gần đường quốc lộ, cách làng Khánh An độ chừng năm cây số. Khoảng cách cũng chả gần, chả xa. Chỉ là do đường xá thời ấy chưa tốt, nên việc đi lại cũng có phần hạn chế. Nhiều lần cậu tôi nhắn ra, bảo tôi vào quê cũ mà vớt củi với cậu. Tôi theo cậu ra bến sông, nhưng lần nào cũng thấy cô nàng ở đó. Vẫn chỉ một câu hỏi quen thuộc như những lần gặp khác:
- Người phố cũng biết vớt củi à?
Có lẽ vì nàng nghĩ, khi tôi chuyển ra đường cái to sống là đã có quyền rũ bỏ cái mác nhà quê lam lũ.
Tôi đáp:
- Tớ vẫn người làng này mà.
Cô bé nở nụ cười tươi, không hỏi gì thêm, chỉ lúi cúi đứng bó từng bó củi, rồi chất đầy lên chiếc xe trâu hai bánh đang để sẵn trên bờ ghềnh Hang Mang. Tôi chợt ngượng ngùng, đứng im, mắt hướng ra dòng sông đang chứa đầy những sóng.
Trên đoạn đường làng bê bết bùn đất, trơn như mỡ đổ, đoàn trâu ì ạch kéo những chiếc xe cải tiến, lặc lè chở những xe củi chất ngất về các căn nhà mái rạ. Niềm vui hiện lên trên khuôn mặt lam lũ của người làng. Lũ đã lấy đi nhiều thứ, nhưng lũ cũng mang lại nhiều thứ cho cuộc sống này. Lũ cho họ nguồn chất đốt phong phú. Lũ cũng từng lấy đi tính mạng của những người xấu số. Có lần, trên bến Hang Mang ngày lũ, mọi người đang lặng lẽ buông sào nứa ra sông vớt củi, thì chợt có tiếng nháo nhác, rồi tiếng hò hét gấp gáp.
- Làng nước ơi, có người chết đuối.
- Cái Sinh?
- Ờ, đúng cái Sinh rồi.
Thì ra là chị Sinh, con ông Được “máy bơm”. Người làng vẫn gọi ông Được với cái biệt danh như vậy, bởi ông có chân trong tổ chạy máy bơm của Hợp tác xã Hồng Thái, ngoài bến Máy. Chị Sinh hơn tôi hai tuổi, nhưng ở làng vẫn được gọi là cùng trang lứa với tôi. Trên mặt sông sủi bọt, bóng chị nhấp nhô, có lúc chìm nghỉm, có lúc trồi lên cánh tay với và búi tóc xõa ra, chảy tràn trên mặt sóng. Cậu tôi đứng trên bờ, thấy có người hò hét, vội buông sào nứa, lao ùm xuống dòng sông. Nước chảy xiết, có lúc như muốn kéo cậu tôi trôi tuột đi. Cứ loay hoay mãi, cuối cùng cậu tôi mới kịp bơi ra chỗ có bóng dáng người đang chới với. Cậu đưa tay túm chặt vào mái tóc dài, buông xõa của chị Sinh, ra sức kéo vào bờ. Cánh trai làng thấy vậy cũng có người lao xuống, có người dùng sào nứa chìa ra cho cậu tôi bám vào. Loay hoay một hồi thì cậu tôi và chị Sinh mới lên được bờ. Lúc này, cậu tôi đã thấm mệt, đuối sức. Người chị Sinh lả đi, nhũn như tàu lá chuối hơ lửa. Mọi người xúm xít cả lại, lo lắng cho số phận một con người đang đối mặt với tử thần kia. Có người bế xốc chị Sinh lên vai, vừa chạy vừa nhún nhún chân, để nước trong bụng chị trào ra. Bao nhiêu công đoạn xử lý người đuối nước được người làng mang ra áp dụng, cuối cùng chị Sinh mới dần tỉnh lại.
Sau đận cậu tôi lao xuống dòng nước lũ để cứu chị Sinh, cả làng coi cậu tôi như người hùng.
Một hôm, tôi hỏi cậu:
- Cậu không sợ chết à?
Cậu tôi bảo:
- Ai mà chả sợ. Nhưng trong hoàn cảnh ấy tao chả kịp nghĩ gì.
Sau này, có lần chị Sinh kể:
- Tớ đứng trên bờ, với sào nứa ra sông, quá sức để móc cây củi to vào bờ. Lớ ngớ thế nào, trượt chân, rơi xuống dòng nước. Lúc đầu tớ hoảng lắm, nhưng một lúc sau thì tớ chả biết gì nữa, chỉ thấy có một
luồng ánh sáng rất ấm, nhiều màu sắc dẫn dụ tớ đi. Rồi thấy ông bà tớ đang chìa tay đón ở nơi nào mơ hồ lắm.
Chả biết câu chuyện về cái luồng ánh sáng nhiều màu sắc và việc gặp lại ông bà đã mất của chị Sinh kể có đúng không, nhưng khiến người làng Khánh An cứ bàn tán xôn xao cả một thời gian dài. Nhiều người còn đồn thổi, thêm bớt cho câu chuyện có phần hấp dẫn, khiến câu chuyện trở nên hư hư, thực thực. Sau cái đận vuột khỏi tay Hà Bá, chị Sinh năng đi lại với gia đình cậu tôi, coi nhau như ruột thịt.
Mùa lũ cũng dần đi qua với người làng Khánh An. Cuộc sống yên bình bên bến Hang Mang lại diễn ra thường nhật như bản thân nó vốn vậy. Bọn trẻ lớn lên, lấy vợ, gả chồng. Người già dần mất đi. Quy luật sinh tử là vậy. Mỗi người đều gắng gượng, sẵn sàng đối mặt với mất mát, hi sinh để vun vén cuộc sống ấm no hơn. Trên làng quê mới, kể từ khi đoàn người khai hoang từ tỉnh Ninh Bình lên đây, mỗi ngày những ngọn khói bếp lại chập chờn bay lên. Tiếng quát tháo, tiếng trẻ nô đùa vỡ ra, trở thành những âm thanh quen thuộc, là sợi dây để người Khánh An neo bám vào đó mà giữ đất, giữ làng, mà đi qua những mùa lũ.
T.B.H
Minh họa của Lê Cù Thuần
