Một cuộc đời xanh vào màu rừng

Thứ sáu, ngày 02-05-2025, 10:17| 1.158 lượt xem

Ghi chép của Lê Na

 

                                    

 

Ông là Hà Văn Điệt, sinh năm một chín bốn bảy, hiện trú tại thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Tôi biết tiếng ông đã khá lâu, thời mà báo chí, từ trung ương đến địa phương dành nhiều lời ca ngợi người kỹ sư lâm nghiệp này. Cũng ít lâu sau lại xôn xao chuyện ông vướng vào lao lý. Câu chuyện dài của một thời bao cấp, cái khi mà cơ chế “o bế” còn u ám cả một cơ chế cho một guồng máy vận động. Chuyện ông bị kỷ luật rồi đi tù, phải chăng cũng giống như những “nút trói” của một cơ chế thị trường vừa mới manh nha?. Hôm nay, tôi mới có cơ hội tiếp xúc với ông. Tôi đang ngồi đối diện với một “Ngôi sao Thần Nông”. Một con người nhỏ thó, trán cao và luôn thường trực nụ cười, dẫu cho cuộc đời ông đã trải qua bao sóng gió, thăng trầm. Duy chỉ một tình yêu màu xanh của rừng là không thay đổi. Nó như một mặc định của đời ông gắn với màu xanh cây rừng và mảnh đất Tuyên Quang.

Mùa xuân năm hai không hai lăm, thời tiết lạnh nhiều, những cơn mưa phùn dai dẳng và thích đùa dỡn. Sang tháng hai âm lịch, nhiệt độ vẫn ở mức mười lăm độ xê. Tôi phóng xe máy lên Chiêm Hóa tìm gặp ông. Ngồi nói chuyện với bà hàng nước, người này chỉ đường vào nhà và tranh thủ giới thiệu với tôi, cuộc đời và sự nghiệp của ngài kỹ sư lâm nghiệp.

Tôi đến nhà, hai ông bà đang chơi bóng chuyền hơi tại Nhà văn hóa tổ dân phố. Ông bỏ dở trận đấu, đưa tôi vào thăm vườn ươm tại xã Tân An. Bảy mươi tám tuổi mà tôi bám theo xe ông cũng không đơn giản chút nào. Tiết trời se lạnh, mây trĩu xuống, xám xịt. Đất đồi đỏ au, bết vào giày. Những luống keo ươm hạt, màu xanh đều tăm tắp, cây đã cao chừng hai gang tay, chuẩn bị xuất vườn. Nhìn khuôn mặt ông, có cảm giác mọi vui buồn, trăn trở, ước mơ đều hướng về cây.

Ông cầm bầu cây keo non từ luống, nhìn sản phẩm và say sưa kể chuyện với khách. Đây là giống keo mà hạt được nhập khẩu từ nước Úc. Chất lượng cây tốt, khả năng thích nghi thổ nhưỡng và cho thu hoạch cao. Ở huyện Chiêm Hóa, hiện nay có hàng chục hộ gia đình kinh doanh cây giống lâm nghiệp, nhưng chủ yếu họ nhập cây con từ các tỉnh lân cận rồi bán cho bà con, lấy chênh lệch giá. Riêng ông, trực tiếp gieo hạt tại đất vườn. Hiện có hai vườn ươm cây giống tại Chiêm Hóa, mỗi vụ xuất khoảng ba triệu cây giống cho nhiều địa phương, trong và ngoài tỉnh.

Tháng bảy năm hai ngàn linh hai, ông quyết định mở dịch vụ cung cấp giống cây lâm nghiệp, cây ăn quả, và cây cảnh. Lúc cao điểm ông có hai héc ta rưỡi đất vườn ươm. Trong đó một héc ta ở huyện Na Hang, còn lại ở Chiêm Hóa. Nhận thấy tiềm năng đất đồi, và nhu cầu phát triển rừng ở huyện miền núi này, ông đã quyết tâm xây dựng “thương hiệu” vườn ươm cây, kỹ sư Hà Văn Điệt. Từ đó, qua hơn hai mươi năm, ông đã cung cấp cây giống cho hàng ngàn lượt hộ gia đình trên địa bàn huyện, tỉnh và khu vực lân cận. Ngoài ra, ông cũng cung cấp cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức trồng cây mỗi dịp xuân về.

Tôi lượn xe xuống bản Tụ, xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, gặp một khách hàng của ông. Ông Lê Xuân Quang, sáu mươi hai tuổi. Nhà ông Quang cách đường nhựa chừng một trăm mét, dựa lưng vào đồi cây gió bầu (hay còn gọi là trầm). Mấy ông bạn già đang ngồi quanh cái bàn tròn, uống trà, đàm đạo chuyện xuân. Năm hai ngàn lẻ bảy, gia đình ông Quang đã trồng bốn trăm cây gió bầu do ông Điệt chuyển giao giống và kỹ thuật chăm sóc. Ông Quang dẫn tôi lên đồi cây. Một vạt đồi đã cho thu hoạch vụ đầu. Giá bán cây gỗ gió bầu tươi đến tám ngàn đồng một kilogam. Một vụ thu mới đang hi vọng trên đồi cây gió bầu của gia đình ông. Hiện nay có cây to đã trọn một vòng ôm.

Cũng đi lên từ gió bầu, gia đình ông Hoàng Hướng Tiền ở thôn Khuôn Trại, xã Phú Bình đã trồng hai ngàn năm trăm cây. Hai năm trước gia đình đã thu hoạch bảy trăm cây, được ba trăm triệu đồng. Theo ước tính, nếu một héc ta trồng hai ngàn cây thì trong vòng từ mười hai đến mười lăm năm sẽ cho thu hoạch một tỷ đồng. Đó là một giá trị lớn, nhưng cũng phải chăm sóc công phu, đúng quy trình. Các hộ trong huyện đang chăm sóc ba mươi đồi cây gió bầu, trên diện tích khoảng hai mươi héc ta. Trong số này hơn ba ngàn cây được trồng ở xã Tân An.

Để cây có trầm, người ta đục lỗ vào thân cây, rồi bơm các chế phẩm sinh học vào ruột, kích thích cây tạo trầm. Trầm hương cô đặc, có màu đen như nhựa đường. Loại trầm nhân tạo hiện có giá từ sáu đến tám triệu đồng một kilogam, nếu trầm thiên nhiên, loại đặc biệt có tên là “kỳ nam” giá đến cả tỷ đồng một kilogam. Lần đầu tôi biết giá trị của loại gỗ đặc biệt này. Nó được sử dụng làm hương trầm và hóa mỹ phẩm. Các nước Tây Á và các nước theo đạo Phật, có nhu cầu sử dụng cao loại sản phẩm này...

Lên Chiêm Hóa, thỉnh thoảng tôi ngủ lại ở nhà bà cô. Cô tôi, Lương Thị Chiêm, giáo viên nghỉ hưu. Nhà cô ngay bên bờ con sông Gâm xanh biếc. Tưởng cô chẳng liên quan gì đến rừng với cây, hóa ra cô cũng biết khá nhiều chuyện về cây và người phố huyện. Khi còn dạy học, mỗi khi xuân sang, trường cô lại liên hệ mua cây cho Tết trồng cây. Đã thành thông lệ, mỗi học sinh ở đây đều tham gia ngày hội trồng cây. Vẫn là giống cây từ vườn ươm của ông Điệt.

Sáng hôm sau, tôi đi xe máy vào thăm một nhạc sĩ quen biết. Ông là Tăng Thình, người đã bỏ phố huyện vào rừng lập trang trại chăn nuôi và trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp. Nguồn giống cây của ông, phần lớn cũng từ vườn ươm của kỹ sư Hà Văn Điệt. Đây là thôn Nà Coóc, thuộc xã Xuân Quang. Con đường bê tông, luồn qua tre nứa, keo, quế có đoạn đã bị vỡ lở. Nhạc sĩ Tăng Thình là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Tuyên Quang. Những sáng tác của ông chủ yếu về đất và người phố Chiêm, với giai điệu mướt mát bóng cây xanh, lời rừng núi, suối ngàn hòa quyện trong tiếng đàn Then dìu dặt. Ông sinh ra từ rừng và khi được nghỉ chế độ, ông lại chọn rừng làm nơi vui thú. Lúc vui, ông thả hồn cùng cây ghi ta, ngân rung những âm hưởng của núi rừng.

Cơ ngơi và không gian của nhạc sĩ thật đáng quý. Khu trang trại có diện tích hơn bốn mươi ngàn mét vuông. Bốn năm trước ông Thình đã trồng hai ngàn cây quế, từ vườn ươm của kỹ sư Điệt. Năm vừa qua, ông trồng thêm sáu ngàn cây mới. Xung quanh trang trại là trám, bưởi, tai chua và hoa hồng. Tầng trên rợp bóng cây, tầng dưới là lợn rừng, gà rừng, trâu, bò, dê... thỉnh thoảng, ông kỹ sư lâm nghiệp vào thăm nhạc sỹ cũng tâm giao cà phê, trà ngon và nghe tiếng chim ríu ran trong không gian xanh này.

Ông Điệt tâm sự, ông gốc là người Thái, quê tại xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Tháng mười một năm một chín bảy mốt, tốt nghiệp đại học Lâm nghiệp tại Quảng Ninh, được phân công công tác tại Lâm trường Chiêm Hóa. Những năm ấy, kỹ sư như mình cũng hiếm, được về thủ phủ của cây xanh, môi trường lý tưởng cho một chàng trai hai mươi bốn tuổi. Nhưng cũng ở đây còn đầy rẫy khó khăn chồng chất. Nghèo đói, đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào còn thấp, giao thông hạn chế, đó cũng là đặc điểm chung của các huyện miền núi. Ngày đó, rừng tự nhiên còn nhiều, chim thú cũng đầy đàn. Từ hổ gấu, hươu nai, lợn rừng đến khỉ, nhím, cầy, cáo. Đồng bào các dân tộc nơi đây chưa có ý thức bảo vệ, giữ rừng. Trồng rừng thì quả là việc làm xa xỉ. Bà con cho rằng rừng là của thiên nhiên ban tặng cho mình, ai có sức thì lấy.

Để tuyên truyền vận động bà con trồng cây, gây rừng là một việc quá khó. Các đội của lâm trường nằm rải rác ở các xã. Họ là những người từ các tỉnh vùng xuôi, lên đây khai hoang. Họ là những thanh niên nam, nữ trong tỉnh và dân địa phương trong huyện. Có lúc đông nhất, lâm trường có trên hai ngàn công nhân. Cuộc sống của họ đều nghèo, chỉ trông vào rừng cây, nương rẫy.

Mười sáu năm công tác, từ một Phó Giám đốc lâm trường, kỹ sư Hà Văn Điệt được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch huyện Chiêm Hóa. Hai năm sau, ông lại được điều trở lại làm Giám đốc lâm trường. Tưởng rằng đã đúng nghề đào tạo, xuôi thuyền, mát mái, nào ngờ vài năm sau đó, Giám đốc Điệt đã vi phạm các quy định về quản lý kinh tế. Đó là vì ông đã chi tiền thưởng lương tháng thứ mười ba vào dịp tết năm một chín chín mốt cho công nhân, sai quy định. Với tổng số tiền là năm mươi sáu triệu đồng cho bảy trăm, tám mươi tám cán bộ, công nhân lâm trường. Trong bản án của ông cũng có tội vi phạm về quy định quản lý và bảo vệ rừng.

Ấy là vào năm một chín chín hai, ông nhận được dự án trồng cây lâm nghiệp. Ban Giám đốc quyết định đầu tư tại bản Phja Seng, xã Hà Lang. Đây là một bản người Dao Đỏ, đời sống của bà con còn nghèo đói. Ông chỉ đạo cho bà con phát nương ót (rừng thứ sinh không phải rừng nguyên sinh) để trồng cây mới. Kết quả là ông bị liên đới, phá rừng để trồng rừng. Cũng may, tất cả “tội lỗi” của ông bị Tòa án tuyên phạt hai mươi bốn tháng, cho hưởng án treo.

Hết thời hạn, ông lại tiếp tục làm việc tại lâm trường. Lúc này, ông với nhiệm vụ là cán bộ kỹ thuật lâm sinh. Đời người kỹ sư lâm nghiệp, không sao thoát ly được cây rừng. Qua bão giông, mưa xối, ông càng thương cây hơn bao giờ hết. Mỗi khi ông đặt một hạt giống xuống vườn ươm, bầu cây ấy là niềm trăn trở và hy vọng của ông.

Không như “con én phải tên sợ làn cây cong”, người kỹ sư ấy càng yêu nghề, yêu rừng hơn bao giờ hết. Năm hai ngàn lẻ bảy ông đã được Hội Nông dân Việt Nam tặng danh hiệu Sao Thần Nông. Từ rừng, gia đình ông đã có nền kinh tế vững chãi. Ông tham gia góp quỹ xây dựng quê hương Thanh Thủy, Phú Thọ. Ông góp tiền giúp hộ nghèo và tham gia nhiều các hoạt động từ thiện, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Các con ông cũng lần lượt bước theo con đường rừng như bố chúng. Trơn trượt dẫu có ngã thì vẫn phải vục dậy vượt qua.

Hai anh con trai, Hà Sơn Thủy, Hà Ngọc Thiện lại kế nghiệp bố. Năm hai ngàn lẻ sáu, chàng trai hai mươi bốn tuổi, Hà Ngọc Thiện tốt nghiệp đại học Lâm nghiệp tại Hà Nội. Ra trường, anh lại xin vào Lâm trường Chiêm Hóa. Ngồi nói chuyện với Thiện, chàng kỹ sư lâm nghiệp đã có mười chín năm công tác, biết anh đã được người cha mình truyền ngọn lửa đam mê rừng. Tôi hình dung ra kỹ sư Điệt ngày xưa, hai mươi bốn tuổi khoác ba lô lên Tuyên Quang.

Thiện cho biết: Anh hiện là cán bộ kỹ thuật của Công ty Lâm nghiệp, với mức lương bậc năm đại học, gần tám triệu đồng một tháng. Công ty đang quản lý năm ngàn bảy trăm héc ta rừng của mười bốn xã, thị trấn với mười đội sản xuất. Mỗi năm Công ty Lâm nghiệp Chiêm Hóa khai thác khoảng năm trăm héc ta rừng, sản lượng từ hai mươi đến hai lăm ngàn mét khối gỗ. Số diện tích khai thác và số trồng mới tương đương nhau. Phương thức sản xuất của công ty chủ yếu liên doanh trồng rừng và khai thác với hộ gia đình. Toàn công ty có năm mươi tám người. Trong số này có bốn mươi mốt công nhân lao động trực tiếp còn lại mười bảy cán bộ gián tiếp.

Anh con cả là Hà Sơn Thủy, sinh năm một chín bảy bảy, hai năm nay được ông trao lại quản lý, chăm sóc các vườn ươm. Đi lên từ màu xanh rừng, cuộc sống của các con ông đều có thu nhập khá. Gần đây, do nhu cầu người chơi duối cảnh ngày càng cao, Thủy đầu tư vào cây này. Anh săn tìm mua phôi cây và trực tiếp đi khai thác. Một vườn duối cổ thụ, đã qua chăm sóc, tạo thế, tạo dáng đang hứa hẹn mùa thu hoạch.

Những năm qua, tôi đã đi nhiều lần đến tất cả các xã của Chiêm Hóa. Nơi đâu, cũng gặp màu xanh của rừng tự nhiên và rừng trồng. Đây là một trong vài địa phương có độ che phủ rừng lớn nhất ở Tuyên Quang. Từ Trung Hà, xuôi Hà Lang, Tân An những keo, quế, mỡ biếc xanh. Rừng ngà bóng xuống ngòi Quãng mát trong. Rừng ngút ngát đến Kéo Mác, xanh theo dòng Đài Thị. Rừng lớp lớp phủ tán dọc đôi bờ sông Gâm. Rừng chạy theo núi đồi chập trùng, mang nước cho suối Cổ Linh từ Linh Phú, Tri Phú đến Kim Bình, Vinh Quang. Màu rừng ấy in dấu những người thợ rừng, những công nhân lâm trường và thấp thoáng có bóng của một người kỹ sư nhỏ con, mà tấm lòng yêu cây như nước nguồn.

“Rừng ơi, ta đã về đây, mang sức của đôi tay, lao động khó khăn không quản ngại. Rừng ơi, trong tiếng ca hôm nay, vang lên cuộc đời sáng tươi trong tương lai...”. Khi ngồi viết bài ký này, tôi bất giác cất lên một câu hát, trong Bài ca người thợ rừng của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Một người yêu rừng đến độ đam mê như ông kỹ sư này, không phải ai cũng có được. Hôm ở nhà cô tôi, cô có nhắc đến một chi tiết, làm tôi ám ảnh. Ấy là khi đang trong thời kỳ tạm giam, mấy người cùng cảnh ngộ đã đề nghị ông kỹ sư Điệt hát bài: Bài ca người thợ rừng. Không ngại ngùng, người kỹ sư đã say sưa hát. Đây là bài hát đã gắn bó với ông từ trên giảng đường đại học, cho đến suốt những năm công tác và khi nghỉ chế độ. Ngay cả những lúc gặp trắc trở, giai điệu ấy vẫn như một ánh sáng thắp lên ở phía trước để “vang lên cuộc đời, sáng tươi trong tương lai”.

Tuyên Quang, tháng 2, 3/2025.

L.N

Tin tức khác

Thầy em

12-05-2025

Gọi hè sang

30-04-2025

Hồng Huê

29-04-2025