Bút ký của Lê Na
Hát câu Si Lượn. Ảnh của Thế Sơn
Tôi nghe tên Bản Biến đã khá lâu, một vùng đất huyền bí, mang mang, như trong thần thoại. Đâu đó, thấp thoáng, in dấu vết của Tài Ngào, một nhân vật khổng lồ, do đồng bào tưởng tượng ra và đó cũng là mơ ước, con người có sức san núi, lấp sông, từ ngàn đời nay. Dấu chân của Tài Ngào dắt trâu trời bước qua những đỉnh núi. Cũng ở đó, những trăn, rắn thần thoại xuất hiện, như kẻ ác rình rập, hãm hại dân làng. Kể từ đó lòng sao háo hức, muốn được khám phá, trải nghiệm một miền đất và cuộc sống của đồng bào nơi đây. Hôm nay, một ngày đẹp nắng, trong tôi rạo rực được đặt chân tới.
Bản Biến thuộc xã Phúc Sơn, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang. Chừng ba tiếng đồng hồ, đi xe máy từ thành phố Tuyên Quang. Cách đây vài năm, Phúc Sơn thuộc huyện Chiêm Hóa. Nói đến xã Phúc Sơn, người ta nghĩ ngay đến rừng nghiến đại ngàn, nguyên sinh và những núi đá sừng sững bao bọc thôn bản. Người ta cũng nghĩ đến câu chuyện thần thoại xót xa, ai oán. Một ngày đã xưa, xưa lắm, dân bản “biến” đi đâu không ai biết.
Trong ngôi nhà sàn gỗ nghiến, đẹp và chắc chắn, rộng thênh thang, Bí thư Chi bộ thôn, Ma Phúc Hiền, năm mươi lăm tuổi, tiếp chuyện chúng tôi. Anh Hiền trước đây đi bộ đội, năm một chín chín tư về địa phương. Anh được kết nạp Đảng, khi làm công tác quân sự tại địa phương, đến nay đã có hai mươi hai năm tuổi Đảng. Bí thư Chi bộ pha trà tiếp khách. Gương mặt thư sinh, da trắng, mái tóc xoăn tự nhiên thấy anh giống như một thầy giáo. Tôi hơi thắc mắc về cái họ Ma Phúc của anh. Chiêm Hóa là một huyện có nhiều người Tày sinh sống. Ma Phúc là một dòng họ lớn, hầu hết là dân tộc Tày. Nhưng ở Bản Biến, lại là người Dao Đỏ. Bí thư Hiền giải thích về dòng dõi xa xưa nhiều đời, gia phả của anh cũng là Tày.
Câu chuyện về lo ăn, lo mặc, lo giảm nghèo và hướng tới làm giàu của đồng bào nơi đây, như hương trà núi, rót mãi không cạn. Bản Biến có một trăm tám tư hộ, trong đó một trăm năm chín hộ Dao, hai mươi lăm hộ Tày, với tổng số bảy trăm sáu lăm nhân khẩu. Ngôn ngữ được sử dụng hàng ngày là tiếng Dao. Những người Tày trong bản đều giao tiếp với nhau tiếng Dao. Diện tích đất cấy lúa một vụ có ba mươi tư ha. Vào vụ xuân, hầu hết diện tích đất lúa trở thành đất trồng lạc, ngô. Hơn ba chục ha đất lạc là nguồn thu nhập đáng kể của bà con. Trên các nương rẫy, bà con trồng tre lấy măng góp phần phủ xanh đất rừng. Chăn nuôi trâu bò, dê, gia cầm và trồng rau, màu cũng là tập quán truyền thống của dân bản. Ngoài ra bà con còn trồng hai mươi tư ha ngô từ đất ruộng, soi bãi. Vài năm trở lại đây, trong bản đã có hơn hai chục người làm Youtube, Tiktok kiếm thêm thu nhập. Họ đều là những người trẻ, nhanh chóng tiếp cận với công nghệ số, có kiến thức xã hội và kỹ năng khai thác mảng đề tài cuộc sống hoang sơ của người miền núi.
Quốc lộ 279, từ xã Minh Quang qua xã Phúc Sơn, cắt ngang hai triền núi đá của rừng nghiến nguyên sinh, sang huyện Na Hang. Con đường bê tông từ đó ngược dốc, rồi đi dọc khu dân cư và nơi sản xuất của bà con, chừng năm cây số. Ngay đầu bản là Chốt Cửa Rừng của Trạm Kiểm lâm Phúc Sơn. Một căn nhà nhỏ xinh, nằm trên sườn núi đá. Trưởng chốt là Chẩu Văn Binh, quê xã Khuôn Hà. Chốt có bốn người, độ tuổi đều dưới ba mươi. Các anh thường xuyên phải leo núi, kiểm tra từng cây nghiến và các loại gỗ quý; Đến từng nhà, tuyên truyền vận động bà con bảo vệ rừng, không chặt gỗ, đốt lửa, bắt ong ở rừng phòng hộ, không săn bắt thú rừng.
Công việc tưởng đơn giản, nhưng đôi lúc phải kiên quyết với những thói quen lâu đời của bà con. Vẫn có những cá nhân không chấp hành luật bảo vệ rừng. Thi thoảng các anh lại phải thu, tháo những cái bẫy thủ công bẫy chim, thú rừng. Anh Mụ Văn Dưỡng, hai bảy tuổi, một người hợp đồng làm công tác tuần rừng, cho biết: Đại bộ phận đồng bào đều nhận thức tốt công tác bảo vệ rừng. Người Dao Đỏ, chính là người của rừng núi. Họ sinh ra từ rừng, gắn bó với rừng suốt cả cuộc đời. Khi chúng tôi đến Chốt Cửa Rừng, anh Binh trưởng chốt đang làm hồ sơ kết nạp Đảng cho Nguyễn Văn Nam, một chàng trai Tày, hai tám tuổi, quê xã Lăng Can.
Tôi muốn được thử sức leo núi cùng các cán bộ kiểm lâm nơi đây. Ngước lên trập trùng núi đá, những thân nghiến sừng sững, phơi màu sáng từng mảng núi. Rừng nghiến, trai, đinh và nhiều gỗ quý khác, đã phủ xanh màu lam.
Trạm Kiểm lâm Phúc Sơn có mười bảy người, anh Ma Phúc Sáng, bốn hai tuổi là Trạm trưởng. Trong số này có mười một người là tuần rừng. Họ là những người hợp đồng, không trong biên chế. Mức lương mỗi tháng cho một người chỉ hơn năm triệu đồng. Anh Sáng cho biết, công tác bảo vệ rừng là phải từ dân, do dân. Kể từ khi Quốc lộ 279 đi qua vùng lõi của rừng nghiến, công tác quản lý bảo vệ rừng gặp khó khăn hơn. Con đường mở ra nhiều thuận lợi cho đồng bào giao thương, trao đổi, hàng hóa nông sản, nhưng cũng là điều kiện để kẻ xấu vận chuyển lâm sản trái phép. Hoạt động này thường diễn ra vào ban đêm nên khó kiểm soát. Năm ngoái, Trạm đã phát hiện một vụ, nhưng kẻ gian bỏ của để thoát thân.
Những ngôi nhà sàn, mọc xen kẽ nhà đất nằm dọc hai bên đường bê tông. Nhiều nhà gỗ nghiến, lợp ngói nâu, chắc chắn, xung quanh bưng gỗ, quét sơn Nhật, màu cánh gián. Bản Biến có mười hộ làm dịch vụ homestay. Cuộc sống của người Dao nơi đây vẫn chủ yếu tự cung, tự cấp. Việc kinh doanh, đưa sản phẩm của mình thành hàng hóa bắt đầu manh nha. Trước đây phải đi nơi khác xát thóc lúa thì nay tại bản đã có sáu hộ có máy xát, máy nghiền thóc, ngô. Bản đã có các quán ăn sáng, vài điểm bán thịt lợn, thịt trâu bò, rau xanh và sáu hộ kinh doanh hàng bách hóa tổng hợp. Sân bóng đá, chiều chiều bọn trẻ chơi bóng, thả diều.
Buổi chiều, trời miền núi đã lạnh. Sương và khói bếp lan tỏa, hòa trộn vào nhau. Thứ ánh sáng trắng đục, hòa lẫn màu chàm của núi như ma mị mà chỉ ở những chiều miền sơn cước mới có. Tôi phóng xe máy ra nơi mà bà con gọi là Nặm Lù Thút. Gặp mấy em nhỏ đang chơi trên sân bóng của thôn, tôi rủ chúng đi dẫn đường mà chẳng đứa nào nhận lời. Đành liều một mình. Con đường bê tông hướng về chân dãy núi. Một rừng cọ cao vút xen lẫn nơi sản xuất ngô, khoai. Những cái nhà lều, như tổ chim treo trên vài thân cọ gần nhau. Đây là sản phẩm của các Youtuber, Tiktoker để lại. Hết đường bê tông là con đường mòn đầy cỏ dại, chỉ những nơi có bánh xe máy qua mới sáng lên, giống như vết đi vòng vèo của trăn, rắn. Con đường lượn xuống rồi lên dốc đột ngột đến tức ngực.
Chợt tôi bị ngăn lại bởi dãy núi trước mặt. Một cây đa cổ thụ, đen sậm như người khổng lồ đứng canh núi. Cây đa án ngữ một vùng bí ẩn. Bên cạnh một thẻo cát, nhập nhoạng trắng là một khoảng đen sâu hút. Cây cối um tùm. Bất chợt, tiếng cú mèo rúc lên thảng thốt. Chột dạ, tôi thấy sống lưng ớn lạnh. Trước lúc đến đây, người dân đã nhắc, chập choạng tối, nên đi từ hai người. Nặm Lù Thút, theo tiếng Tày nghĩa là nơi nước chui vào hang. Chính vì sự tò mò của mình, mà tôi đã mạo hiểm. Vì sao cả một con suối ngập tràn nước mà về đây mất hút. Nó đã “biến” mất để lại trí tưởng tượng thần bí của người xưa. Nơi đây, chính là đường hang rút đi và “biến mất” của trăn thần. Tôi chỉ kịp chụp vài bức ảnh rồi rút khỏi nơi này, như chạy trốn một nỗi ám ảnh đang rình rập. Khi đèn flat phát ánh sáng, từ trên ngọn đa, có tiếng chim đập cánh bay ra. Trộm nghĩ, nếu hỏng xe lúc này thì không biết chuyện gì sẽ đến với tôi...
Chúng tôi nghỉ đêm ở Homestay Thẳm Ngần của vợ chồng anh Lý Tiến Phượng, năm mốt tuổi. Vẫn là ngôi nhà sàn gỗ nghiến, sơn màu mật ong, rộng thênh thang, được hoàn thành và làm homestay từ ba năm nay. Thẳm Ngần theo tiếng Tày là “hang tiền”. Nghe nói từ xa xưa, người ta đã cất giấu tiền trên hang núi này. Trước đó, đoàn văn nghệ sỹ Tuyên Quang đã leo hang Thẳm Ngần. Một cái hang rộng, có thể chứa cả mấy chục người. Dân trong bản đã lấy hang núi làm phim trường để quay clip tại đây. Một khoảng rộng dưới nền hang, được lát sàn gỗ. Nhũ đá và rễ cây từ vòm hang buông rủ những hình hài kỳ thú. Nước từ trên núi thong thả buông nhịp. Phía bên trái cửa hang, một bệ đá như ngai vàng của vua chúa mà ai cũng muốn được ngồi thử. Mấy viên đá chụm lại làm bếp lửa đơn sơ, nhưng nguội lạnh.
Cơm tối xong, tôi mượn xe máy đi dọc bản. Điện đường sáng trưng. Tôi nhớ đến một câu thơ của Tố Hữu: “Núi rừng có điện thay sao...”. Điện đường là công trình do dân tự nguyện đóng góp, với tổng số tiền gần một trăm triệu đồng. Hai bên đường, nhà nhà sáng đèn. Cửa hàng tạp hóa và những nơi thanh niên vui chơi, có thêm đèn xanh đỏ, nhấp nháy. Nhà văn hóa thôn đang sáng đèn, tôi dựng xe, ghé vào. Thấy khách lạ, mọi người hướng ra phía tôi. Tôi xin phép được ngồi xem.
Hội Phụ nữ thôn đang tập chương trình văn nghệ tham gia hội diễn tại xã. Chủ đề là “chống bạo lực gia đình”. Tất cả các “diễn viên” đều là hội viên phụ nữ thôn. Chi hội Trưởng Triệu Thị Trang, hai tám tuổi, vừa xây dựng kịch bản, kiêm “đạo diễn”. Người đóng vai ông chồng say rượu là chị Phùng Thị Ba, đóng vợ là La Thị Tương, vai con gái là Triệu Thi Dương và người phụ nữ đến hòa giải là Triệu Bích Lan.
Vở diễn nói về một ông chồng nát rượu, cứ rượu say là mắng con, chửi vợ, không cho con gái hoạt động công tác xã hội. Ông được phụ nữ thôn đến khuyên bảo, thuyết phục, và người chồng say xỉn đã tỉnh ngộ. Xem xong, tôi mạo muội góp ý: Các bạn diễn rất đạt. Tôi xem thấy xúc động thực sự. Nhưng xin góp ý mấy lời thoại. Anh chồng say có thể không làm chủ bản thân, nói năng bất chấp. Nhưng đưa lên sân khấu, mình phải diễn đạt cách khác để mọi người hiểu được. Người vợ không say, phải lựa lời mà nói, lạt mềm buộc chặt mà. Phụ nữ miền núi luôn chịu nhiều thiệt thòi, mình phải có cách thuyết phục chồng, bằng tình yêu thương thực sự, vừa trọn nghĩa mà vẹn tình. Mọi người cùng vỗ tay.
Tôi tìm đến nhà Trưởng thôn ở phía cuối bản. Anh Ma Phúc Hiến, tuổi Bính Dần, gương mặt rắn rỏi, nước da nâu, màu vỏ nghiến. Vẫn dòng họ Ma Phúc. Anh lấy rượu ra mời khách. Tôi từ chối vì đi xe máy. Hai vợ chồng Hiến cùng tuổi, gia đình có năm khẩu, làm thêm máy xát thóc, có lúc nuôi đến hai chục con lợn. Trưởng thôn cho hay, năm ngoái, bản Biến thu hoạch hai trăm mười tấn thóc và hơn một trăm bảy lăm tấn lạc củ tươi, bốn mươi tấn ngô hạt. Lương thực riêng thóc, bình quân đầu người một năm là hai trăm bảy mươi lăm kg. Năm nay lạc được mùa, năng suất khá. Lạc là một đặc sản của vùng đất này. Mỗi vụ thu hoạch, những người mua gom đã đặt tiền trước. Nó cũng là thực phẩm dự trữ quanh năm của đồng bào.
Đêm xuống. Bản Biến, thung lũng dài và hẹp như bị những dãy núi bóp thêm lại. Tôi bước xuống cầu thang, ra đường nhìn lên dãy Vàng Phja (núi đá vàng) in thẫm trên bầu trời. Câu chuyện mà ông già họ Triệu kể, làm tôi muốn ngắm núi khi đêm muộn. Xưa lắm rồi, có hai anh em nghèo, mồ côi bố mẹ. Người anh trai không nuôi nổi người em ốm đau, mang bỏ em trên núi Vàng Phja. Bầy khỉ thấy một cậu bé gầy ốm, thương xót mang về hang nuôi. Khỉ lấy thuốc bằng lá cây chữa bệnh, lấy quả rừng cho cậu bé ăn. Ít lâu sau, cậu bé khỏe mạnh và cậu ngỏ ý xin về sống với dân bản. Bầy khỉ đồng ý, trước khi đưa cậu bé về bản, khỉ dạy cho cậu cách nhận biết các loại cây thuốc trên rừng và cho cậu nhiều vàng từ hang núi đá.
Người anh thấy em mình khỏe mạnh, đẹp trai lại có nhiều vàng mang về bèn hỏi rõ sự tình. Lòng tham lam trỗi dậy, người anh lên núi, giả vờ ốm đau, tự xé áo, quần rách rưới đi tìm bầy khỉ. Một ngày, hai ngày trôi qua mà không thấy con khỉ nào đến. Đến ngày thứ tư, một con khỉ già xuất hiện và bảo người anh. Hãy về hang Thẳm Ngần, tiền bạc và sức khỏe đang ở đó. Người anh bò lết từ sáng sớm trên núi Vàng Phja sang Thẳm Ngần. Trời đã tối mịt, vừa đói vừa rét, anh chẳng thấy bạc vàng mà gặp toàn rắn rết. Một tuần không thấy anh trai về, người em nhờ dân bản lên núi Vàng Phja tìm, mấy ngày liền không thấy. Khi lên Thẳm Ngần thì người anh đã chết...
Trong dân bản, vẫn còn truyền nhau câu chuyện mang chất huyền thoại. Thuở ấy, khi đất trời còn hoang sơ, người Dao Đỏ chỉ quen săn bắt thú rừng. Một hôm, có con trăn thần dính tên độc của ai đó, leo lên một cây phay cổ thụ. Đầu tới ngọn phay mà đuôi trăn dưới gốc cây. Cả bản kéo nhau bắt trăn làm thịt. Người ta cắt đuôi để hứng máu uống. Không biết rằng trăn đã dính tên độc, nên những người uống tiết trăn thần đều bị trúng độc. Đó là một thời cả bản biến mất. Sau khi hết chất độc, trăn thần quay đầu bò xuống, bơi xuống suối rồi chui qua hang núi Nặm Lù Thút.
Tài Ngào còn để lại dấu một bàn chân to trên đường vào Bản Biến. Địa danh đó, mang tên Tàng Vài - đường trâu. Mãi sau này người Dao Đỏ mới trở lại dựng nhà, lập bản. Câu chuyện buồn dù chỉ là huyền thoại đã nhắc nhở đồng bào biết ăn ở và sống tốt với rừng. Họ đã biết giữ rừng, bảo vệ động vật hoang dã, chăm sóc phát triển cây xanh như chính hơi thở, sự sống của mình.
Bình minh ở Bản Biến thật đẹp. Mặt trời đỏ rực trườn qua dãy Cha Cang. Ánh sáng như những tia ngọc chiếu rọi đỉnh núi Thần, núi Nàng Tiên. Ban ngày ngước lên Vàng Phja, chỉ thấy màu xanh của cây rừng. Hổ báo, gấu khỉ không còn nữa chỉ còn những dấu tích và cái tên từ xưa cổ. Còn đó, xung quanh nhà, trên nương rẫy của người Dao Đỏ là một kho tàng cây thuốc quý, hiếm.
Chúng tôi phải chia tay Bản Biến. Sáng nay Bí thư Hiền ra xã họp. Trưởng thôn Hiến, bắt tay từng người thật chặt. Mấy người mẫu chụp ảnh diện trang phục truyền thống đến chào khách. Cuộc chia tay nặng trĩu tâm tư. Nắng đã bừng lên soi chiếu nương ngô, ruộng lạc. Con thác cao vút lưng trời, đổ xuống dòng suối, làm mát cả cánh đồng, cho ngan vịt tung tăng rồi xuôi ra Nặm Lù Thút. Nhịp điệu Bản Biến một ngày mới vừa thong thả vừa hối hả đi cùng sự đi lên của miền núi Tuyên Quang.
L.N
21-11-2024
21-11-2024
19-11-2024
