Ký của Tạ Bá Hương

Mộ cụ Tạo được người Khánh An chôn cất ngay trong nghĩa trang làng. Đó là cái mộ sơ sài, được người làng đắp bằng đất từ hồi cụ mất. Mặc dù hễ cứ đến mùa tảo mộ hằng năm, người làng ra nghĩa trang sửa biện lại mộ phần tiên tổ cũng đều không quên đắp cho cụ thêm phần đất. Tuy nhiên, dường như mỗi năm, ngôi mộ cụ Tạo càng trở nên bé nhỏ trước những ngôi mộ khác của những người nằm xuống nơi đây. Số gia đình có con cái thành đạt, cuộc sống no đủ hơn nên người ta thường hay chú trọng đến vấn đề tâm linh. Gia đình nào, dòng họ nào cũng đua nhau xây mộ to, hoành tráng, với khuôn viên được lát gạch, trồng cây xanh và các loại hoa cho thêm phần rực rỡ. Thế nên, ngôi mộ đắp đất của cụ Tạo xem ra càng trở nên khiêm nhường trước hàng trăm ngôi mộ khác.
Cụ Tạo không phải người của làng này. Quê quán cụ ở đâu thì chả ai rõ. Người làng chỉ biết có một buổi chiều muộn, khi bóng hoàng hôn kịp đổ xuống tím thẫm trên mặt nước sông Lô, bỗng có một ông già ăn mặc rách rưới, đói khổ xuất hiện ở đầu làng. Nom cụ rã rời, có vẻ rất mệt mỏi. Mái tóc cụ bết lại vì mồ hôi. Cụ đi đất, khoác trên mình bộ quần áo nhàu nhĩ, khét lẹt vì nắng, trên vai lại vắt thêm cái bao tải dứa cũ sờn. Cụ già chậm rãi lê bước chân về làng Khánh An. Trên đường vào làng, hễ gặp người là cụ nghiêng mình chào hỏi. Người làng nom thấy thế cũng ý nhị nở nụ cười đáp lẽ, nhưng trong lòng không biết phải trả lời ông cụ ra sao. Trong mắt người làng, khuôn mặt, vóc dáng ông cụ không giống bất cứ ai, hoặc chí ít cũng phải hao hao giống một ai đó trong làng. Vậy ông cụ đến đây làm gì? Con cháu đâu mà để cụ lặn lội đường xá xa xôi thế này cơ chứ? Có người không giấu được vẻ hoài nghi, buột miệng hỏi:
- Cụ từ đâu tới vậy?
- Tôi ở xa lắm.
- Cụ tìm ai ở làng này ạ?
- À, không, tôi chả tìm ai cả, chỉ tìm xem làng có việc cho lão già làm không thôi.
Người làng Khánh An ái ngại. Già cả thế này, sao bước chân còn lưu lạc trên những dặm dài cuộc sống. Lẽ ra ở tuổi ông cụ cần phải nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng tuổi già bên gia đình, con cháu. Đằng này, cụ vẫn phải nếm trải nhọc nhằn, đói khổ. Dẫu biết rằng, người làng Khánh An sau mấy năm dời bỏ quê cũ, dắt díu nhau lên vùng quê mới, trên khúc sông Lô để gây dựng cuộc sống, mọi thứ vẫn chưa thực sự ổn định. Nhiều gia đình còn rất khó khăn, cần mất thêm thời gian dài nữa mới dám nghĩ đến cái sinh phần dư dả. Nhưng dù sao cũng không đến nỗi nào. Chả như cụ đây, tuổi già ầm ập đến, nhanh như mũi tên bật ra khỏi lẫy nỏ, còn chưa biết tương lai phía trước nó ra sao. Người làng thương tình, đành đưa cụ đến gặp Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã Hồng Thái. Tại đây, những người có trách nhiệm trong làng thương tình, bố trí cho cụ ra cái lán trại ngoài lò gạch, ngay kề bên sân bóng của làng. Ngày mới lên đây, người làng đã tính đến chuyện xây dựng các lò gạch thủ công để chủ động vật liệu trong khâu xây dựng các công trình công cộng, phần còn lại dùng để bán cho dân quanh vùng. Cụ Tạo ra đó trên một cái lán tạm bợ, mái lợp cỏ gianh, xung quanh các bức tường được quây lại bởi những phên nứa. Trước đây, lán này dành để xã viên làm gạch nghỉ ngơi vào mỗi buổi trưa, hoặc những người trông nom buổi tối, trước khi gạch ra lò. Cả một dãy lán, nối khớp vào nhau, dài có dễ đến mấy chục mét. Tất nhiên, lán không thực sự vững chắc. Nhưng trong điều kiện hiện tại thì cái lán ấy phần nào đáp ứng được nhu cầu có chỗ ở đối với cụ Tạo.
Một hôm, ông Chủ nhiệm Hợp tác xã đến lán gạch. Ông vốn là lính chống Mỹ, trải qua nhiều trận đánh ác liệt, nay về phục viên, lại tham gia cái chân Chủ nhiệm. Chất lính trong ông khá đậm đặc, từ cách đi đứng, ăn nói, việc làm… đều toát lên sự mẫn cán, trách nhiệm với làng, với xã. Sau khi nhìn bao quát cái lán cụ Tạo đang ở, ông Chủ nhiệm Hợp tác xã, hỏi:
- Cụ sống vậy có được không?
Cụ Tạo cười, ra vẻ ngượng ngùng:
- Tốt quá rồi ông ạ. Tôi chả mong gì hơn.
- Có gì thì cụ phải bảo đấy nhé.
Cụ Tạo phân bua:
- Ấy chết, tôi đâu dám làm phiền dân làng.
Ông Chủ nhiệm cười lớn:
- Cụ cứ khách sáo làm gì cho nhọc.
Trên nền đất ẩm, gồ ghề đất đá, cụ Tạo loay hoay dọn dẹp những thứ bỏ đi cho khu lán trở nên tươm tất hơn. Cụ xếp đồ đạc móc lên vách nứa. Nói là đồ đạc chứ thực ra nó chả có gì, ngoài bộ quần áo và mấy đồ dùng lặt vặt. Thứ quý giá nhất của cụ là hai cái nồi bé như cái khum tay người lớn. Không có kiềng ba chân, cụ dùng ba viên gạch xếp chéo nhau để làm kiềng, đến bữa cụ đặt cái nồi lên trên đó và nhóm lửa. Ngọn lửa lơ ngơ bốc lên, nom cũng giảm đi đôi phần cô quạnh. Ngày đôi bận đỏ lửa như vậy, cuộc sống của cụ cứ lặng lẽ bên góc làng mà trôi đi. Hằng ngày, cụ đến các gia đình trong làng để xin việc. Việc gì cũng được, miễn là người ta có nhu cầu thuê, thì cụ làm. Khi thì đi gặt lúa, lúc lại lên núi làm nương. Hết mùa thu hoạch thì cụ đến nhà người làng ngồi tẽ hạt ngô, phơi thóc. Người làng thương cụ nên chả nỡ bắt cụ làm việc nặng nhọc. Được cái cụ cũng tinh ý, việc gì cụ cũng làm được, mà làm một cách nhiệt tình, say sưa, chưa bao giờ thấy gia chủ trong làng phàn nàn điều tiếng gì về cụ. Cứ hết ngày làm, gia đình nào vời cụ đến đều mời cụ ăn cơm, rồi trả cho cụ chút lương thực. Gia đình nào khá giả hơn thì dúi thêm vào tay cụ mấy đồng bạc lẻ. Ngày đó người làng đều nghèo, thế nên việc thuê mướn người làm, họ cũng chỉ trả phần lương thực, hiếm khi trả tiền. Cuộc sống chủ yếu dựa vào tự cung, tự cấp, sản phẩm nông nghiệp làm ra chưa được coi là hàng hóa. Hễ trong làng có công to, việc lớn, như: Cưới hỏi, đám ma... thì người làng chỉ đến đỡ đần nhau về công sức và hỗ trợ thêm can rượu, con gà, yến gạo, chứ có mấy ai mang tiền đến đâu. Ngay cả với cụ Tạo, người làng thương cụ lắm, nhưng cũng chỉ giúp đỡ cụ có ngần ấy thôi. Mỗi lần như vậy, cụ đều vui vẻ đón nhận công sức của mình bỏ ra trong một ngày làm lụng vất vả. Gặp hôm đau yếu, hay mưa gió, cụ nghỉ không đi làm, cụ lấy phần lương thực người làng trả công cho cụ, rồi nhóm lửa lên, tự tay nấu cho mình bữa cơm đạm bạc. Nhưng, việc nấu nướng này cũng hiếm khi xảy ra, bởi hàng ngày cụ ăn cơm ở chỗ làm, chỉ có tối mới trở về lán trại nghỉ ngơi cho lại sức, để sớm mai lại bắt đầu một hành trình mới.
Có hôm, cụ đang nghỉ ngơi thì nghe tiếng gà con kêu lên thảm thiết. Cụ mở cửa ra xem, thấy trên rặng tre góc lán có con quạ đen quắp thêm con gà. Cụ tất tả vào lán, lấy nồi ra khua gõ ầm ĩ cả lên. Con quạ đen sợ hãi, đành nhả con gà ra, rồi vụt bay đi mất. Con gà con rơi xuống gốc tre, cụ ra nhặt về, thấy nó vẫn còn sống. Cụ ôm nó vào lòng, mang đi các nhà trong làng hỏi xem có ai bị mất gà không. Nhưng, tuyệt nhiên chả có ai chịu nhận. Cuối cùng, cụ mang nó về chăm bẵm. Đó là một chú gà mái hoa mơ. Từ đấy, căn lán ngoài khu lò gạch của làng, nơi cụ trú ngụ có thêm thành viên mới. Chú gà được cụ chăm bẵm cẩn thận nên lớn nhanh như thổi, suốt ngày quanh quẩn bên chân cụ. Hôm nào phải đi làm, cụ lấy dây buộc chân nó vào cái cột để nó đỡ đi kiếm ăn linh tinh. Cụ hi vọng, sau này nó sẽ đẻ cho cụ một bầy gà con, rồi một bầy gà con đó sẽ nhân lên thành đàn gà lớn.
Chỗ lán cụ Tạo ở cũng gần nhà tôi, cách có cái bờ rào tre gai. Thỉnh thoảng tôi vẫn chạy sang đó chơi với cụ. Hôm thì cụ phần cho mẩu khoai luộc, hôm lại củ sắn nướng. Cụ vốn nghèo, nhưng thảo tính. Cụ lại được trời phú cho sức khỏe. Tuổi già, làm lụng quanh năm, nhưng chả ai nom thấy cụ ốm bao giờ. Tôi chỉ chứng kiến một lần duy nhất là khi đi làm về, gặp mưa, cụ bị cảm, phải nằm một chỗ. Người cụ run lên trong lán, môi trắng bợt bạt. Cụ một mình chống lại những cơn ho nặng nhọc phát ra từ vòm họng, nom chả còn tí sức sống nào. Ông tôi nghe tin, sai đi nấu bát cháo và bảo mẹ tôi bưng sang cho cụ. Tôi theo chân mẹ tôi sang, cụ nom bát cháo mẹ tôi đưa, gắng gượng ngồi dậy húp từng thìa khó nhọc. Cứ húp được vài thìa, cụ lại nghỉ để nhường chỗ cho những cơn ho kéo dài khô khốc. Hết ho, cụ lại lặng lẽ ngồi ăn, mãi mới vơi được non nửa tô cháo. Mẹ tôi gắng giục cụ ăn thêm chút nữa cho lại sức, nhưng cụ xoa tay, ra điều không ăn được nữa. Ngoài hiên lán, con gà mái hoa mơ của cụ vẫn quanh quẩn ra vào. Nó không thể ý thức được chủ nhân của nó đang ốm, nên nó cứ tự nhiên như chả có việc gì xảy ra. Cụ nằm một chỗ vài ngày thì vực dậy được. Sau đận ấy, sức khỏe cụ có phần thuyên giảm đi ít nhiều.
Cụ Tạo cũng chạc tuổi ông nội tôi, thuộc diện cao tuổi nhất làng Khánh An. Ngày còn khỏe, ông tôi vẫn thường xuyên chống gậy sang lán cụ Tạo chơi, chuyện trò thân mật. Cùng cảnh xa quê, nên hai người có phần thương nhau lắm. Cứ vài hôm không thấy ông tôi đến, cụ lại nhắc, hoặc cũng có khi cụ tự sang. Mà lần nào sang nhà tôi chơi, cụ cũng không quên mang theo vài củ khoai, hoặc mẩu sắn đã luộc sẵn. Cụ sai tôi lấy cho cụ cái đĩa, xếp khoai luộc lên đó, rồi vời mọi người trong gia đình tôi cùng đến thưởng thức. Nhưng, có hôm, tôi thấy cụ đến chơi, đang chuyện trò vui vẻ với ông tôi, thì đột nhiên cụ bưng mặt khóc, khi ông tôi nhắc về quá khứ cuộc đời gian truân của mình. Cụ khóc nức nở như một đứa trẻ. Ông tôi bất ngờ, vì cứ ngỡ cụ Tạo vốn thường ngày mạnh mẽ là thế, giờ ngồi đây khóc, tiếng khóc nghèn nghẹn của tuổi già, nghe nó buồi tủi lắm.
- Đời tôi coi như vứt bỏ cụ ạ.
- Thì nó làm sao, cụ nói tôi xem nào?
- Cha mẹ, anh em đều chết cả. Chết đói, chết khát. Tôi mồ côi, phiêu dạt khắp nơi để kiếm cái ăn vào miệng, sau này chỉ xin làng một dúm đất để chôn.
Ông tôi an ủi:
- Thời cuộc nó thế mà. Có ai được sung sướng đâu.
Cụ Tạo thôi khóc. Cụ ngồi thừ ra một lúc, cụ nhìn sang tôi, rồi nói rành rẽ:
- Chỉ mong con cháu nó sau này được sung sướng hơn chúng ta.
Ông tôi nói chen vào:
- Lẽ dĩ nhiên rồi. Ai giàu ba họ, ai khó ba đời đâu,
cụ nhỉ.
Thì ra cụ Tạo cũng có những nỗi lòng u uẩn mà hiếm khi thấy cụ chia sẻ cùng ai. Cả cuộc đời của cụ là chuỗi ngày đói dài, đói rạc. Ngay từ bé, cha mẹ cụ đã phải bỏ xác trên đường đi xin ăn. Làng quê ngày đó xao xác lắm. Dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp, người nông dân lại không sống được từ nghề làm nông nghiệp. Phận người vừa đói khát, vừa phải lo nơm nớp vì những lần Pháp bắt lính, bắt phu, đánh đập và giết chóc tang thương lắm. Nhiều người bỏ làng vì chiến tranh, không ít người thân trong dòng họ cụ Tạo chết vì súng đạn. Ngày cha mẹ chết, đứa trẻ tên Tạo thời ấy phải đi ở đợ khắp nơi. Hết đi làm thuê cho nhà này, làng này, rồi sang nhà khác, làng khác. Cả đời lo miếng ăn còn chả xong, thời gian đâu mà nghĩ đến những gì cao sang hơn, tốt đẹp hơn về một cuộc sống no đủ, một mái nhà bình yên, một người vợ tảo tần với những đứa trẻ lớn lên. Của đáng tội, thời trẻ, cụ cũng có vài người đàn bà để mắt tới, nhưng cụ không dám tiến đến hôn nhân. Cụ mặc cảm với thân phận nghèo túng, ở đợ của mình. Cụ lo lắng nếu lấy vợ rồi, liệu cuộc đời cụ có lo nổi cho người ta không. Ngay cả bản thân cụ còn chưa biết ngày mai sẽ ra sao. Thế nên, suốt mấy chục năm qua, bước chân của anh Tạo rắn chắc hôm nào, nay đã già nua, yếu ớt mà vẫn không có một mối tình, dù chỉ là thoảng qua với đàn bà mà cụ đã từng nom thấy. Giờ đây, bước chân ấy có thể sẽ không còn bước tiếp trong một tương lai gần. Đời người ai cũng phải thế, sinh ra, lớn lên, già yếu và chết đi. Một quy luật tuần hoàn, khép kín. Có điều, mỗi người một số phận khác nhau, có người hạnh phúc và có người không hạnh phúc. Chỉ thế thôi mà níu buộc con người vào với bao nhiêu lo toan bộn bề của cuộc sống thường nhật.
Một đời quăng quật, nhưng cụ Tạo vẫn chưa một lần trở lại làng cũ, nơi chôn nhau, chắt rốn của mình. Hoặc có thể cụ không còn nhớ gì về ngôi làng ấy nữa. Trong kí ức của cụ, quê cũ chỉ còn lại những gì mơ hồ, không thực sự rõ nét. Đâu đó hiện ra một ngôi làng nhỏ bé ở phía cuối dòng chảy của con sông Hồng. Cũng chả thấy anh em, họ mạc gì đến tìm cụ. Hình như họ đều chết cả, chết đói, chết khát, chết do bom đạn chiến tranh từ cái hồi Pháp còn đô hộ. Có chăng chỉ còn lại anh em họ mạc xa, cuộc sống bộn bề lo toan, đâu có thời gian, điều kiện mà đi tìm cụ cơ chứ. Thành thử cả đời cụ sống côi cút, sống dựa vào miếng cơm thiên hạ. Hằng ngày, cụ đi kiếm việc ở những làng xã nào có nhu cầu, bất kể việc gì cụ cũng nhận. Cụ không bao giờ đòi hỏi gia chủ nơi cụ đến làm mướn phải trả tiền công gì sất, chỉ cần đôi bữa ăn và chút lương thực, giúp cụ để dành những lúc đau yếu, không đi làm được. Thấy cụ dễ tính nên người ta cũng chả dám quỵt nợ cụ làm gì cho thất đức. Hễ làng này hết việc, cụ lại xách tay nải dời đi làng khác. Từ vùng xuôi, cụ lặn lội theo sông Lô, dần dần ngược lên miền núi. Làng Khánh An, chỗ bến ghềnh Hang Mang là điểm dừng chân cuối cùng của cuộc đời sương gió mà cụ nếm trải. Lúc đầu đặt chân đến, cụ vẫn nghĩ chỉ ở hết mùa thu hoạch, vãn việc, cụ lại ra đi. Nào ngờ, mảnh đất nơi bến sông cứ như sợi dây níu buộc cụ lại, khiến cụ không nỡ dời đi. Lâu dần, nó trở thành máu thịt, là hồn cốt của quê hương, xứ sở. Dẫu nơi này cụ không có bà con thân thích, chỉ có người làng Khánh An (vốn là dân khai hoang từ Ninh Bình lên), nhưng họ sống đều ân nghĩa và thương nhau. Cụ lại là người đến sau, không phải là người đầu tiên vỡ đất, lập làng, nhưng người làng vẫn nhường cơm, xẻ áo, chia thành quả lao động của họ với cụ. Vật chất thiếu thốn, vậy mà tình người cứ ăm ắp đầy như nước sông Lô, chẳng bao giờ vơi cạn.
Ông nội tôi già, đổ bệnh. Ông tôi đi đứng bắt đầu thấy khó nhọc hơn. Tuổi già thường như ngọn đèn trước bão, chả biết thế nào mà lần. Nay khỏe, mai ốm là chuyện bình thường. Cụ Tạo hay tin, dờ dẫm sang thăm. Hai khuôn mặt già nhìn nhau đầy vẻ ái ngại cho cái tuổi đang đổ xuôi về bên kia dốc cuộc đời.
Cụ Tạo bảo:
- Cụ phải sớm khỏe đấy. Mình phải khỏe để con cháu nó đỡ lo.
Ông tôi gắng gượng ngồi dậy, vẻ mệt nhọc:
- Tôi ốm sơ sơ thôi mà, mấy nữa lại khỏi.
Cụ Tạo gọi với ra ngoài:
- Thằng Hương đâu, mang đây cho ông cái rổ.
Tôi lon ton chạy vào, thấy cụ hạ tay nải xuống, lấy ra chục quả trứng gà. Những quả trứng nhỏ, hình tròn, trắng lông lốc, được đặt vào trong lòng rổ.
- Tôi biếu cụ chục trứng để cụ tẩm bổ.
Ông tôi càu nhàu:
- Cụ cứ bày vẽ làm gì cho nhọc.
Sau này tôi mới biết, số trứng cụ mang sang biếu ông tôi là do con gà mái hoa mơ của cụ nó đẻ lứa đầu tiên. Lứa trứng đó cụ dự định để ấp, để nó nở ra một đàn gà con cho cụ nuôi. Hay tin ông tôi ốm, cụ không nỡ, cụ gói cả lại đem sang thăm ông bạn già. Ông tôi không muốn nhận, nhưng cụ lại cho rằng, chả mấy chốc nó lại đẻ lứa nữa. Cái giống gà nó mắn lắm. Quanh đi quẩn lại, chỉ ít bữa nữa nó sẽ nhảy ổ, lại “cục ta, cục tác” cho mà xem. Hi vọng có một đàn gà nở ra, rồi phát triển thành những đàn gà nữa chưa bao giờ nguôi ngoai đi trong lòng cụ Tạo. Dù nghèo khổ, hay thế nào đi chăng nữa thì con người ta vẫn phải neo bám vào niềm hi vọng, dù niềm hi vọng ấy có thể là mong manh. Sống một cuộc đời côi cút, giờ có thêm con gà làm bạn, kể ra nó cũng giúp cụ tìm thấy chút an lạc tuổi già.
Mỗi sớm, cụ Tạo lại xách theo cái đòn gánh đi làm cho những gia đình trong làng. Bao nhiêu năm nay, công việc của cụ vẫn vậy, vẫn sớm đi, tối mịt mới trở về cái lán tồi tàn ngoài lò gạch hợp tác. Có hôm nào ăn tối khuya, cụ mới chịu về muộn. Trên đoạn đường làng, dưới ánh trăng bàng bạc, bóng cụ xiêu vẹo, đổ dài. Đôi khi ngẫu hứng, cụ nghêu ngao hát chèo. Người làng Khánh An hiếm khi thấy cụ Tạo hát. Tiếng hát của cụ trầm đục, hòa vào tiếng gió đêm khuya, rồi tan biến vào những rặng tre hai bên vạt đường. Nghe tiếng hát ấy sao mà buồn thăm thẳm. Nỗi buồn theo tiếng hát mà bay ra, vừa thấy thân phận con người, vừa như có tiếng nuối tiếc của một mối tình mênh mông, xa vắng.
Đào liễu có một mình
Em đi đâu, hỡi cô nàng ơi
Đào liễu có một mình
Ây kìa hai vai, đang còn gánh nặng
Để mà nhật trình
Nhật trình đường xa
Dẫu mà… tấm áo, tấm áo sòng em...
Cụ Tạo không phải người Khánh An, nhưng cụ đã đến với làng này, ăn ở suốt cả chục năm trời, thế nên người ta vẫn coi cụ như người con của làng. Thời còn quy mô Hợp tác xã, khi chia công điểm, làng vẫn có phần cho cụ. Sau này cụ mất, người làng đưa phần thân xác của cụ ra ngoài nghĩa trang, để cụ có chỗ nằm chung với những người làng đã mất trước đó. Ngày cụ về với đất, tôi ở xa nên không rõ sự tình. Chỉ sau này người ta kể lại rằng, cụ mất trong một đêm mưa gió bão bùng. Đêm ấy, cả làng chốt cửa đi ngủ, chả ai dám ra đường, kể cả cánh thanh niên. Thế nên, sớm hôm sau người ta đi làm sớm, lúc ngang qua lán cụ ở, chỗ lò gạch hợp tác, thấy cửa lán bị mưa bão làm bung ra. Dường như đêm qua cái lán tạm bợ, sơ sài ấy không thể nào chống lại được sức công phá của mưa bão. Người làng ngó qua vách nứa, thấy cụ Tạo vẫn nằm đó, nhiều chỗ mưa dột, nước đọng từng vũng dưới nền đất. Gọi mãi chả thấy cụ thưa. Người làng đâm ra hoảng, cùng lao vào lay cụ, nhưng cụ đã chết từ đêm hôm trước rồi. Xác cụ nằm cứng đờ trên cái phản gỗ được dựng ở góc lán. Vậy là người làng hò nhau đến làm ma cho cụ. Khổ, cả một đời côi cút, lang bạt khắp xứ, vợ con, người thân không có, đến lúc chết vẫn cứ côi cút một mình. Cánh thanh niên trong làng nhấc cụ dậy, tắm rửa cho cụ bằng lá thơm. Cánh phụ nữ thì lo dựng rạp, đi mượn bàn ghế, xoong nồi. Người già đi gọi phường bát âm đến lo ma chay cho cụ chu đáo. Mỗi người mỗi việc, cắt cử nhau ra mà làm. Đấy là tất cả những gì người làng có thể làm được cho cụ lúc này, không thì cũng tội quá. Cụ đã sống với làng, nhờ thóc gạo của làng mà đi qua cơn đói khát. Nay cụ trở về với đất, một lần cuối cùng tiễn một mảnh đời đi, ai nấy đều cảm thấy ngậm ngùi, thương xót. Mộ cụ trải mưa nắng, qua biến cố đời người, nom nó vẫn vậy. Vẫn là nắm đất nâu, nằm chon hỏn ở giữa nghĩa trang làng.
Sau đận cụ Tạo mất, con gà mái hoa mơ của cụ không biết đi đâu. Có người bảo, hay nó bị người ta bắt đi nhỉ? Nhưng làng này có mất trộm cái gì bao giờ đâu? Cũng có người bảo, hay nó buồn mà bỏ đi theo ông cụ. Mọi người cứ phỏng đoán thế. Lại có người quả quyết rằng, họ từng nom thấy con gà mái hoa mơ dẫn theo đàn con lít nhít đến bên mộ cụ Tạo, sau đó biến mất vào lùm cây trong nghĩa trang. Kể từ đó đến nay, chả ai còn nom thấy nó xuất hiện thêm lần nào nữa.
T.B.H
Minh họa của Lê Cù Thuần
19-09-2024
19-09-2024
19-09-2024
19-09-2024
